Sáp nhập đại học, 'đường ray' nào để về đích đúng hạn?

Admin

Theo chuyên gia, mục tiêu giảm 20% đầu mối đại học trước 1/4/2027 hoàn toàn khả thi nếu được thực hiện như một chương trình tái cấu trúc quốc gia có lộ trình và dữ liệu rõ ràng.

đại học ảnh 1đại học ảnh 1

Trong nhiều năm qua, hệ thống giáo dục đại học Việt Nam phát triển nhanh về quy mô. Tuy nhiên, cùng với sự mở rộng là tình trạng phân tán nguồn lực, không ít cơ sở hoạt động ở quy mô nhỏ lẻ, hiệu quả đầu tư chưa tương xứng, năng lực đào tạo và nghiên cứu còn hạn chế.

Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị hồi tháng 8/2025 đặt ra yêu cầu các bộ, ngành, địa phương sớm sắp xếp, tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học, sáp nhập, giải thể trường không đạt chuẩn; xóa bỏ cấp trung gian; nghiên cứu sáp nhập viện nghiên cứu với trường đại học và chuyển một số trường về địa phương quản lý.

Mới đây, Bộ Chính trị đã yêu cầu quyết liệt việc sắp xếp, tổ chức lại các cơ sở giáo dục đại học công, giảm tối thiểu 20% đầu mối, hoàn thành trước ngày 1/4/2027.

Đề xuất lộ trình 5 mốc thời gian

Ủng hộ chủ trương sắp xếp đại học, PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM, nhận định mục tiêu giảm tối thiểu 20% đầu mối trước 1/4/2027 là hoàn toàn khả thi nếu được triển khai như một chương trình tái cấu trúc quốc gia có dữ liệu, lộ trình và trách nhiệm giải trình.

Theo ông, trọng tâm không chỉ là “gộp đầu mối” mà là xây dựng các đại học đa lĩnh vực có năng lực quản trị, tài chính, đào tạo và nghiên cứu mạnh hơn. Việc sắp xếp phải dựa trên năng lực và sứ mệnh phát triển vùng, thay vì chỉ khoảng cách địa lý hay số lượng đơn vị.

Ông Dũng cũng lưu ý không phải mọi trường đều sáp nhập theo cùng một cách, mà có thể áp dụng theo bốn nhóm:

Trường quy mô nhỏ, ngành trùng lặp, tuyển sinh yếu sẽ sáp nhập hoàn toàn vào trường mạnh hơn hoặc đại học vùng (xóa đầu mối pháp nhân, dùng chung quản trị và hạ tầng).Trường có thế mạnh chuyên ngành rõ rệt sẽ trở thành trường thành viên hoặc học viện trực thuộc đại học lớn (giữ thương hiệu học thuật, dùng chung nền tảng quản trị).Trường cùng địa bàn, ngành bổ sung sẽ hợp nhất thành đại học đa lĩnh vực (tạo hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo).Trường đặc thù, phục vụ nhiệm vụ công hoặc địa bàn khó khăn cần liên kết chiến lược, chia sẻ dịch vụ hoặc tổ chức lại từng phần (bảo đảm tiếp cận giáo dục).

“Mô hình phù hợp nhất thường là một pháp nhân đại học - nhiều trường thành viên/học viện chuyên môn”, theo ông Dũng.

Để kịp mốc thời gian, PGS.TS Đỗ Văn Dũng đề xuất lộ trình triển khai gồm 5 mốc cụ thể. Theo đó, ngay trong giai đoạn tháng 8-10/2026, các đơn vị cần rà soát và phân nhóm (đánh giá quy mô, ngành, chất lượng, tài chính, địa bàn, đất đai, nhu cầu nhân lực) để xây dựng bản đồ mạng lưới và danh sách cụ thể.

Hai tháng tiếp theo sẽ dành cho việc thiết kế phương án sáp nhập chi tiết cho từng cụm trường. Đến tháng 1/2027, bộ máy quản trị lâm thời phải được thiết lập cùng kế hoạch 100 ngày.

Việc tích hợp vận hành trọng yếu (pháp nhân, dữ liệu, tài chính, tuyển sinh, tài sản, nhân sự, bảo đảm chất lượng) sẽ dồn lực thực hiện từ tháng 1-3/2027 để hoàn tất mọi thủ tục pháp lý và ổn định trước ngày 1/4/2027.

đại học ảnh 2đại học ảnh 2

Khuôn viên Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội). Ảnh minh họa: Việt Linh.

Giảm đầu mối phải đi cùng đổi mới quản trị

Tuy nhiên, việc cán đích trước ngày 1/4/2027 mới chỉ là sự khởi đầu. Dẫn bài học kinh nghiệm quốc tế, PGS.TS Đỗ Văn Dũng nhấn mạnh mỗi đề án cần một kế hoạch tích hợp hậu sáp nhập kéo dài tối thiểu 2-3 năm với chỉ tiêu đo lường cụ thể. Việc này nhằm tránh tình trạng "sáp nhập trên giấy" rồi bỏ ngỏ khâu vận hành.

“Thành công cuối cùng không nằm ở số lượng trường bị xóa tên, mà ở việc đại học sau sáp nhập có giảm chi phí trùng lặp, nâng chất lượng đào tạo - nghiên cứu, giữ được nhân tài, bảo vệ người học và tạo được văn hóa hợp tác mới hay không”, ông Dũng nhấn mạnh.

Để bộ máy mới hoạt động hiệu quả khi quy mô phình to, ông Dũng đề xuất mô hình quản trị dạng “tập đoàn học thuật công”, vận hành theo nguyên tắc: Đại học quyết định cái gì cần thống nhất; trường thành viên quyết định cách thực hiện tốt nhất trong phạm vi được giao.

Cụ thể, cấp đại học đóng vai trò trung tâm chiến lược (nắm giữ quy hoạch ngành, hội đồng đại học, tự chủ, ngân sách hợp nhất, cơ sở dữ liệu số, thương hiệu chung…). Ngược lại, các trường thành viên giữ quyền thực chất trong thiết kế và tổ chức đào tạo, phát triển ngành đặc thù và quản lý ngân sách khoán theo kết quả…

Ông Dũng chỉ ra nguy cơ lớn nhất sau sáp nhập là giữ nguyên toàn bộ đầu mối cũ. Do đó, vị chuyên gia cho rằng cần tái cấu trúc theo hướng giảm tầng nấc, giảm chức năng trùng lặp và tăng chất lượng chuyên gia. Các cơ sở không nên cắt giảm nhân sự hành chính theo tỷ lệ đồng loạt ngay, mà phải lập bản đồ vị trí việc làm, xác định trùng lặp và đào tạo lại cho các lĩnh vực đang thiếu.

Xử lý mâu thuẫn hậu sáp nhập giữa các trường thành viên cũng được đề cập. Theo chuyên gia, mâu thuẫn thường nảy sinh từ quyền lực, nguồn lực, thương hiệu và cảm giác mất bản sắc.

Để giải quyết vấn đề này, các cơ sở cần công khai tiêu chí bổ nhiệm nhân sự, phân bổ tài chính theo công thức minh bạch và rà soát danh mục ngành để tránh chồng chéo…

Song song đó, cơ sở cần thành lập Hội đồng hội nhập và giải quyết xung đột trong 24 tháng đầu - gồm đại diện lãnh đạo, giảng viên, sinh viên và chuyên gia pháp lý. Kênh đối thoại phải bảo mật, thời hạn xử lý rõ ràng, công khai nguyên tắc và ưu tiên hòa giải dựa trên dữ liệu - quy chế.

Bên cạnh đổi mới quản trị, ông Dũng nhấn mạnh việc người học phải là đối tượng ưu tiên bảo vệ hàng đầu. Cơ sở phải cam kết bằng văn bản tiếp tục chương trình theo chuẩn đầu ra đã công bố; bảo đảm văn bằng, bảng điểm và quyền lợi học tập; học phí, học bổng, ký túc xá không thay đổi đột ngột; phương án chuyển tiếp rõ ràng khi đổi tên trường, mã ngành hoặc địa điểm; hưởng lợi từ học phần liên trường và cơ sở vật chất dùng chung.

đại học ảnh 3đại học ảnh 3

Sinh viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP.HCM. Ảnh minh họa: Phương Lâm.

Đồng quan điểm về việc tái cấu trúc chiều sâu hậu sáp nhập, thực hiện phân cấp, ủy quyền khoa học, PGS.TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng trường Đại học Công Thương TP.HCM, bổ sung góc nhìn công nghệ khi cho rằng chìa khóa bứt phá nằm ở mô hình quản trị số hóa và cấu trúc vận hành phẳng.

Theo ông, cơ sở cần đồng bộ hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu về một đầu mối duy nhất từ quản lý đào tạo, nghiên cứu khoa học đến nhân sự và tài chính.

Việc sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu lớn (Big Data) trong dự báo quy mô tuyển sinh, tối ưu hóa thời khóa biểu và phân bổ phòng thí nghiệm dùng chung sẽ giúp loại bỏ hoàn toàn các thủ tục hành chính thủ công, giảm thiểu chi phí vận hành trục dọc.

Bên cạnh đó, thay vì duy trì cấu trúc phân cấp nhiều tầng nấc gây nghẽn dòng thông tin, ông Hoàn đề xuất áp dụng mô hình quản trị phẳng và ma trận.

"Đại học mới cần tinh gọn bộ máy lãnh đạo, tăng cường các ban chuyên môn chéo. Cơ chế quản lý theo mục tiêu (KPIs) phải được áp dụng đồng bộ cho cả khối học thuật lẫn khối hành chính, lấy hiệu quả đầu ra làm thước đo đánh giá và phân phối thu nhập", ông Hoàn nhận định.

Cuốn sách Giải mã trẻ cá biệt - Hiểu, Hợp tác, Hành động của tiến sĩ Ross W. Greene mở ra một góc nhìn toàn diện và nhân văn hơn về những trẻ bị gắn mác "cá biệt". Thay vì trừng phạt, chúng ta có thể giúp các em rèn luyện những kỹ năng thiếu hụt để biến đổi hành vi.