Tết ở quê có gì để nhớ! Vẫn là chiều 30, hương trầm dâng bảng lảng tận đầu ngõ. Bóng cha gầy guộc châm đèn, bày đĩa ngũ quả trên thiên đài trước sân.
Tết biện lễ gì thì biện, nhưng bàn thờ trời đất vẫn phải chỉn chu. Bóng mẹ lụi cụi dưới bếp lên hương một mẻ cốm mới. Những hạt nếp cái hoa, béo lẳn, nở bung đĩa như ngàn vạn chấm hoa trắng hé cười.
Đĩa bánh ngào tắm mật mía óng ả bày lên. Vị mật ngấu lửa, trộn lẫn hương cốm mới, thơm lừng bếp mẹ, thơm nhẹ nhàng len lỏi mọi ngóc ngách căn nhà gỗ lợp ngói âm dương, thơm vào tận cái dạ dày mấy đứa con sôi réo bao lâu chờ Tết.
Những sợi khói bò lan khỏi góc bếp của mẹ, chui qua những viên ngói rêu phong, thả lên trời một nỗi bùi ngùi: Tết ở quê có gì mà nhớ đâu, vẫn làng quê nghèo, ngôi nhà cũ nằm quay mặt ra chợ bến, phía trước là con rào Ngàn Mọ thao thiết chảy.
Tháng Chạp, nước ngầu đục, những chiếc thuyền nâu chở mẻ cát cuối cùng, vội vã xé nước về xuôi, để kịp đón mâm cơm quây quần tiễn năm cũ. Những con thuyền làm sóng nước duềnh lên xô ướt tiếng cười nói mặn chuyện của các bà, các chị đang rửa vội mớ lá dong cuối cùng dưới bến sông.
Ngàn Mọ quê tôi, từ chớm đông, trời tháng Mười chưa cười đã tối, cho đến tháng Chạp, tháng đợi Tết, cũng là mùa của bão và lụt.
Ông trời kiên nhẫn gan lỳ chịu đựng sự khắc nghiệt của mùa hạ bao nhiêu, thì chớm đông, mọi giới hạn cuối cùng đã bị phá bỏ. Bao nhiêu cơn gió Lào rang nắng giờ mọng nước vỡ oà trong những trận bão lụt triền miên.
Éo le thay, mùa mưa bão năm nào chẳng diễn ra trước thềm năm cũ. Chạy bão, lo mất Tết đã khiến cho người dân quê tôi ai nấy tất tả, sạm mặt vì âu lo. Những thắc thỏm một cái Tết đơn sơ bình dị thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ sao mà khó.
Bởi thời tiết Hà Tĩnh lúc nào cũng bất thình lình và khó đoán như thế núi hình sông ở nơi đây, khó khăn và ngạo ngược. Mưa bão về, sông La dâng như biển, phủ trắng băng những cánh đồng hai bên rú Hồng Lĩnh.
Đó là lúc quê tôi gánh những cơn thịnh nộ từ mẹ thiên nhiên, gánh những trận mưa trắng trời và sau rốt là rướn mình chịu những cơn lụt to dữ dằn như muốn nhấn chìm tất cả.
Những buổi tối mùa đông trước bão, gió bấc tràn về, bà nội tôi ngồi chống gối bên bếp lửa. Khói củi ướt làm mắt bà nội đỏ ké, cay xè. Bà hơ đôi tay như những rễ cây già trên bếp, nước mắt cứ tràn quanh khoé mắt nhăn nheo.
Bà cời lửa nói bâng quơ với cha tôi. Mưa gió bão lũ thế này, ông trời lại lấy mất Tết… Nỗi sợ mất Tết ám ảnh bà đã đành, tự lúc nào đã đeo bám trong lũ trẻ chúng tôi.
Mất Tết đồng nghĩa không có thịt gà ăn với bánh chưng, không có chè đỗ xanh ăn cùng với bánh ngào. Lũ chúng tôi sợ mất Tết đến nỗi chỉ lo bà nói gở.
Ôi những mùa mưa, lũ lụt về, mang theo con mắt đỏ của người già, mang luôn nỗi thất vọng trong veo trên gương mặt những đứa trẻ. Cái đói bủa vây, lũ lụt mang đi nốt cả những sợi khói gầy tháng Chạp.
Ảnh: Quốc Dũng
Nhà ông bà nội tôi đi từ ngõ ra là chạm vào sông. Dòng Ngàn Mọ thao thiết chảy. Mùa lụt, nước dâng ngập nền nhà.
Ông bà nội tôi cất được ngôi nhà ngói 5 gian có cái chạn gỗ lim áp mái để cả nhà leo lên trốn lũ. Trên chạn, bà nội và mẹ tôi cất thóc, gạo, khoai lang thái khô và hũ khoai deo nút kín lá chuối khô thơm nức.
Đợt nào lụt về dâng cao quá, cha tôi bắc thang cho lũ con leo lên chạn. Đói, chị em tôi thò tay vào hũ nhón khoai deo ăn trừ bữa và nằm đọc sách, tối đến quây quần bên nhau kể chuyện ma.
Ngày nước lụt dâng, cha tranh thủ chèo thuyền đi quanh làng để thả lưới bắt cá. Cá từ sông Ngàn Mọ tràn vào nhiều vô kể. Cha thả lưới một lúc thì khoang thuyền lưng một rổ cá đầy.
Mẹ trút rổ cá vào chum, dòng cái dóng bằng mây treo giữa nhà, giữ cho chum cá an toàn qua mùa lụt.
Nước rút, cha lo cào bùn dọn nhà, mẹ rút rạ nhóm lửa nướng cá. Bữa ăn tươi cho cả nhà sau những ngày dài ép bụng nhấm khoai deo trên chạn ngon suốt tuổi thơ.
Làng tôi nhà ai cũng phải có thuyền nhỏ để đi lại mùa lụt. Lũ dâng, thuyền vừa là phương tiện di chuyển trong làng, đi từ nhà này qua nhà khác hỏi thăm nhau, giúp đỡ nhau khi cần.
Thuyền vừa là bí quyết để người làng tôi mùa lũ không lo đói, và có được bao nhiêu cá tràu, cá diếc, cá rô ngon phơi khô để dành những cái Tết chạy lũ chỉ rặt cá là cá.
Chiếc thuyền của cha tôi già cũ đi cùng năm tháng. Chúng tôi lớn lên đi học xa nhà, mỗi lần trở về quê dịp nước lụt, cha vẫn chèo chiếc thuyền nhỏ vá thêm dăm ba mảnh gỗ để đón chúng tôi.
Sau này lập nghiệp nơi xa, các con trở về nhà không còn thấy chiếc thuyền gỗ vá chằng vá đụp năm xưa, cha vừa chèo vừa phải tát nước trong khoang ra nữa mà thay vào đó là chiếc thuyền nhôm nhỏ nhắn.
Cha dành dụm mua được chiếc thuyền đúc nhôm này, bền, không lo thủng nước vào, chèo nhẹ tay. Bấy giờ lũ con vô tâm mới giật mình nhìn cha. Tóc cha tự lúc nào đã phơ phơ bạc, đôi tay run rẩy, dáng đi không còn nhanh như trước, người cha nhỏ bé gầy guộc đi bao nhiêu.
Thương cha xót lòng mà bất lực trước thời gian.
Cẩm Vịnh quê tôi nằm rốn lụt, bao đời nay người dân chống chọi với mưa bão, tìm cách để tồn tại cùng lũ. Trẻ con lớn lên không sợ nước, thạo việc bơi lội, đánh bắt cá.
Cha tôi nói, sống nơi rốn lũ, chạy lụt hằng năm, khổ thế, chứ khổ nữa cha chưa từng thấy có ai rời làng bỏ quê đi tìm quê khác bình an hơn để sống. Đói khổ đến mấy, lũ lụt thế chứ lũ lụt nữa, quê cha đất tổ vẫn là nguồn cội cho con cháu tìm về.
Tôi nhớ rát lòng những cái Tết chạy lụt ở quê. Tháng Chạp là mùa giáp hạt, cái đói rình rập người dân làng tôi tứ bề. Bà nội nói, tháng Chạp bao nhiêu việc phải lo, việc lớn nhất là lo Tết.
Có mưa có lũ thì xin ông trời đến tháng Chạp cũng cho dân làng được bình yên.
Ảnh: Quốc Dũng
Quê tôi cứ Tết là vào mùa giáp hạt, đói rã họng, ăn còn đứt bữa nói chi đến Tết. Nhưng cái tục đón Tết ở quê tôi, dù nghèo khó đứt bữa đến mấy thì cả năm, những người phụ nữ trong làng đã phải tính toán chắt chiu dành dụm để Tết về có đủ ba mâm cỗ cúng ông bà tổ tiên trong 3 ngày.
Ngày 30 cúng tiễn năm cũ, mồng 1 cúng đón năm mới và mồng 2 tiễn đưa ông bà ông vải về trời. Làm con cái mà không lo được 3 ngày Tết là có lỗi với tổ tiên, không hoàn thành trách nhiệm với gia đình.
Để lo được cái Tết, mẹ tôi phải tính toán, chắt chiu dành dụm từ nhiều tháng trước, chỗ nào là thóc xay gạo, chỗ nào là nếp đồ xôi, chỗ nào dành dụm tiền mua thịt, mua cá. Tất cả được mẹ tôi cho vào chum dong lên giữa nhà để phòng lũ về.
Tháng Chạp dù có đói khổ đến mấy, những thứ mẹ dành dụm cho Tết, cấm đứa nào được tơ vương, bởi nếu không, nhà tôi sẽ đánh mất Tết.
Có những cái Tết sát lụt, cả làng tôi ăn Tết bằng cá trừ bữa. Nhân bánh chưng được làm từ thịt cá quả, cá rô đồng. Bởi lũ rút, lợn gà theo lũ mà đi mất, nhà ai khá giả nấu được nồi bánh chưng nhân thịt cá, đã là oách.
Một năm nào đó lũ đến sớm rồi rút sớm, người dân quê tôi mừng rơi nước mắt vì có thời gian để gầy lại con gà, con lợn cho Tết cận kề.
Nhà tôi suốt những năm tháng thương khó ấy chưa bao giờ được ăn một cái Tết đủ no. Mà có lẽ làng tôi, ngôi làng nơi rốn lũ Cẩm Xuyên nằm bên sông Ngàn Mọ có mấy ai được ăn một cái Tết đủ no.
Ôi những cái Tết chạy lụt đầy thương khó vẫn nằm lại vẹn nguyên trong ký ức đậm đặc những kỷ niệm và nặng trĩu nỗi buồn nhớ của tôi.
Đã từ lâu, chúng tôi, không còn chứng kiến những cái Tết chạy lũ năm xưa của cha mẹ. Lũ lụt vẫn còn đó như một phần không thể thiếu của làng, nhưng ông bà cha mẹ đã đi xa.
Ngôi nhà có chạn gỗ năm xưa cũng không còn, thay vào đó là ngôi nhà kiên cố hai tầng tránh lụt.
Tết chúng tôi vẫn về quê, ăn bữa cơm chiều 30 trong ngôi nhà thờ cúng tổ tiên, mà lòng hụt hẫng một nỗi buồn cách biệt.
Nhìn ra trước sân, thiên đài vẫn còn đó nhưng đã bao lâu vắng bóng cha đứng lặng lẽ trong nghi lễ cúng năm mới linh thiêng. Góc sân rêu phủ dày, cây đào nơi cha treo pháo chuột, pháo tép đã chết lụi từ bao giờ.
Năm nay Ngàn Mọ quê tôi lụt đến sớm, tôi nhớ bà nội mỗi lần nước lụt rút, bà tính ngày rồi mừng rỡ: lụt đi sớm, thế là Tết không mất.
Tác giả: Như Bình