Hơn 95.000 giảng viên đại học, chỉ 36% có trình độ tiến sĩ

Admin

Đội ngũ giảng viên đại học đang tăng nhanh về trình độ, nhưng tỉ lệ tiến sĩ vẫn còn chênh lệch đáng kể giữa các trường. Từ năm 2030, Bộ Giáo dục và Đào tạo sẽ nâng chuẩn tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ, đặt yêu cầu cao hơn về chất lượng đội ngũ.

Đội ngũ giảng viên đại học đang có bước tăng trưởng đáng kể về trình độ, với số giảng viên có bằng tiến sĩ tăng gần 40% chỉ sau 4 năm. Tuy nhiên, khi hiện mới có 36,3% trong tổng số hơn 95.000 giảng viên là tiến sĩ, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) đã đặt ra những yêu cầu cao hơn về chất lượng đội ngũ từ năm 2030.

Hơn 95.000 giảng viên đại học, chỉ 36% có trình độ tiến sĩ - Ảnh 1.

Ảnh minh họa

Từ 2030, các trường phải nâng tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ

Ngày 30/9, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư quy định Chuẩn cơ sở giáo dục đại học, trong đó nâng yêu cầu về tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ từ năm 2030, đồng thời đặt ra các tiêu chuẩn cụ thể về tổ chức, quản trị, cơ sở vật chất, tài chính, tuyển sinh - đào tạo, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Theo Thông tư, Chuẩn cơ sở giáo dục đại học là tập hợp các yêu cầu tối thiểu về điều kiện bảo đảm chất lượng và chỉ số hoạt động, được áp dụng thống nhất trong toàn hệ thống giáo dục đại học, trừ một số trường hợp được áp dụng một phần hoặc không áp dụng theo quy định. Kết quả đánh giá được sử dụng làm nguồn thông tin, căn cứ phục vụ quản lý nhà nước, đồng thời là cơ sở để các trường tự đánh giá, giám sát và thực hiện trách nhiệm giải trình.

Thông tư quy định 6 tiêu chuẩn gồm: Tổ chức và quản trị; giảng viên; cơ sở vật chất, học liệu và hạ tầng số; tài chính; tuyển sinh và đào tạo; khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Trong đó, đối với đội ngũ giảng viên, tỉ lệ người học quy đổi trên giảng viên quy đổi không được lớn hơn 40; tỉ lệ giảng viên cơ hữu trong độ tuổi lao động trên tổng số giảng viên không thấp hơn 70%.

Đáng chú ý, cơ sở giáo dục đại học không đào tạo tiến sĩ phải có tỉ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ không thấp hơn 20% và từ năm 2030 không thấp hơn 30%. Đối với cơ sở giáo dục đại học có đào tạo tiến sĩ, tỉ lệ này lần lượt là 40% và từ năm 2030 tăng lên 50%. Các trường đào tạo ngành đặc thù được áp dụng mức riêng.

Về cơ sở vật chất, từ năm 2030, diện tích đất quy đổi bình quân trên một người học chính quy quy đổi không nhỏ hơn 25 m2. Diện tích sàn xây dựng trực tiếp phục vụ đào tạo phải đạt ít nhất 2,8 m2/người học; ít nhất 70% giảng viên cơ hữu được bảo đảm chỗ làm việc riêng biệt. Hệ thống quản lý học tập trực tuyến phải đáp ứng 100% chức năng và yêu cầu tối thiểu theo quy định.

Ở tiêu chuẩn tuyển sinh và đào tạo, tỉ lệ nhập học so với số lượng tuyển sinh công bố, tính trung bình trong 3 năm gần nhất, phải đạt ít nhất 50%; quy mô đào tạo không sụt giảm quá 30% so với 3 năm trước, trừ một số trường hợp được quy định.

Tỉ lệ thôi học trong năm không được cao hơn 10%, riêng người học năm đầu tiên không cao hơn 15%. Tỉ lệ tốt nghiệp trong thời gian không vượt quá 1,5 lần thời gian đào tạo chuẩn phải đạt ít nhất 60%; tỉ lệ tốt nghiệp đúng hạn không thấp hơn 40%.

Thông tư cũng quy định tỉ lệ người tốt nghiệp đại học có việc làm phù hợp với trình độ chuyên môn được đào tạo, tự tạo việc làm, học tiếp trình độ cao hơn hoặc thực hiện hoạt động thực hành bắt buộc để đáp ứng điều kiện hành nghề trong vòng 12 tháng sau tốt nghiệp phải đạt ít nhất 70%.

Đối với khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, cơ sở đào tạo có đào tạo tiến sĩ phải có tỷ trọng thu từ các hoạt động này trên tổng thu, tính trung bình 3 năm gần nhất, không thấp hơn 5%. Kết quả khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo bình quân trên một giảng viên quy đổi không thấp hơn 0,3 sản phẩm/năm; đối với cơ sở có đào tạo tiến sĩ không phải trường đào tạo ngành đặc thù, mức này là 0,6 sản phẩm quy đổi/năm.

Một điểm đáng chú ý là việc đánh giá chuẩn được gắn chặt với dữ liệu số. Dữ liệu phục vụ đánh giá được cập nhật trên Hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành về giáo dục đại học (HEMIS), phải bảo đảm đầy đủ, chính xác, khách quan và có khả năng kiểm chứng.

Cơ sở đào tạo chỉ được đánh giá đáp ứng Chuẩn cơ sở giáo dục đại học khi tất cả tiêu chuẩn, tiêu chí và chỉ số thuộc phạm vi áp dụng đều đạt. Trường hợp kê khai không trung thực hoặc giả mạo dữ liệu sẽ bị đánh giá không đáp ứng chuẩn và xử lý theo quy định của pháp luật.

Các cơ sở đào tạo thực hiện tự đánh giá hằng năm, công bố kết quả trước ngày 31/5; Bộ Giáo dục và Đào tạo thông báo kết quả đánh giá trước ngày 30/6 hằng năm. Kỳ đánh giá đầu tiên theo Thông tư được thực hiện đối với năm dữ liệu 2026.

Số giảng viên có trình độ tiến sĩ tăng hơn 8.000 người sau 4 năm

Đáng chú ý, số giảng viên có trình độ tiến sĩ và mang học hàm GS, PGS đều tăng. Năm 2022, cả nước có 760 GS, TS; đến năm 2026 con số này tăng lên 872 người, tăng 112 người. Số PGS, TS tăng từ 5.331 lên 6.833 người, thêm hơn 1.500 người sau 4 năm. Trong khi đó, đội ngũ tiến sĩ tăng mạnh từ 21.170 người năm 2022 lên 29.454 người năm 2026, tức tăng hơn 8.200 người, tương đương khoảng 39%.

Bộ GD&ĐT cho rằng việc tăng tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ cần đi cùng năng suất và năng lực thực chất. Hiệu quả làm việc được xem xét thông qua quy đổi toàn thời gian, hoạt động hướng dẫn sau đại học, công bố khoa học và các sản phẩm chuyển giao.

Cơ chế tự chủ đại học được đánh giá tạo điều kiện để các cơ sở giáo dục đại học chủ động tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng giảng viên có trình độ tiến sĩ phù hợp với nhu cầu từng ngành. Theo Thông tư 34/2026/TT-BGDĐT, việc xác định quy mô tuyển sinh gắn với số lượng, trình độ giảng viên và các điều kiện bảo đảm chất lượng. Qua đó, quy mô tuyển sinh cũng đặt ra yêu cầu các trường phải tiếp tục phát triển đội ngũ.

Đề án nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý theo Quyết định 89/QĐ-TTg tiếp tục được triển khai. Đặc biệt, Thông tư 50/2026/TT-BGDĐT ngày 30/6/2026 hướng dẫn đào tạo tiến sĩ, thạc sĩ cho giảng viên, tạo thêm cơ sở để các trường tổ chức đào tạo trong năm học mới.

Bộ GD&ĐT yêu cầu các cơ sở giáo dục đại học ưu tiên đào tạo, tuyển dụng tiến sĩ ở những ngành còn thiếu, gắn phát triển đội ngũ với nhu cầu đào tạo và năng lực nghiên cứu. Bên cạnh trình độ học thuật, các trường cũng chú trọng bồi dưỡng kỹ năng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động.

Hơn 95.000 giảng viên đại học, chỉ 36% có trình độ tiến sĩ - Ảnh 2.Từ tháng 10/2026, học bạ số có giá trị pháp lý như học bạ giấyĐỌC NGAY

Việc nâng chuẩn tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ được kỳ vọng tạo thêm động lực để các trường đại học đầu tư phát triển đội ngũ, nhất là ở những ngành còn thiếu nhân lực trình độ cao. Tuy nhiên, cùng với số lượng tiến sĩ, các yêu cầu về năng lực nghiên cứu, công bố khoa học, hướng dẫn người học và hiệu quả chuyên môn cũng ngày càng được đặt nặng, hướng tới xây dựng đội ngũ giảng viên vừa mạnh về học thuật, vừa đáp ứng tốt hơn nhu cầu đào tạo và nghiên cứu của các trường.

Trúc Chi (t/h Vietnamnet, TTXVN)