Hệ lụy 'đếm' bài báo khoa học

Admin

Đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng trên các bảng xếp hạng thế giới là một thực tế nhức nhối về liêm chính học thuật: Tình trạng mua bán bài báo khoa học quốc tế.

Học sinh tìm hiểu thông tin tại ngày hội tuyển sinh nhóm ngành khoa học công nghệ 2025 do báo Tiền Phong tổ chức. Ảnh: Dương Triều.

Việc thiếu cơ chế kiểm soát, chạy theo các tiêu chí định lượng đang đẩy bài báo khoa học công bố quốc tế lên vị trí “siêu thực”, vượt tầm kiểm soát của chính các cơ quan quản lý.

Sức ép từ thực tế

Bài báo khoa học đang là thước đo nằm trong rất nhiều tiêu chuẩn đối với giảng viên đại học. Bộ GD&ĐT đã thiết lập các tiêu chuẩn chuyên môn nghiêm ngặt, biến bài báo quốc tế thành điều kiện cần cho mọi nấc thang sự nghiệp của giảng viên.

Thứ nhất, tiêu chuẩn xét chức danh GS, PGS, bài báo quốc tế uy tín là yêu cầu bắt buộc. Ứng viên PGS cần ít nhất 3 bài, ứng viên GS cần 5 bài báo thuộc danh mục WoS/Scopus.

Thứ hai, điều kiện hướng dẫn nghiên cứu sinh quy định người hướng dẫn nghiên cứu sinh phải có công bố quốc tế mới đạt chuẩn. Tiếp đến, kiểm định chất lượng trường đại học, số lượng bài báo quốc tế trên đầu giảng viên là chỉ số trọng yếu để xếp hạng và cấp phép tự chủ cho các trường.

Mặt khác, theo dự thảo Quy định về chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học đang lấy ý kiến, Bộ GD&ĐT yêu cầu tỷ lệ bình quân của một giảng viên cơ hữu trong một năm đạt tối thiểu 1 bài báo khoa học thuộc danh mục WoS hoặc Scopus...

Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục WoS hoặc Scopus…

Tại thông tư quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học vừa ban hành, Bộ GD&ĐT yêu cầu giảng viên chính phải có ít nhất 3 bài báo khoa học đăng trên các tạp chí đạt chuẩn quốc tế ISSN; đối với giảng viên cao cấp, con số này là 6 bài báo khoa học.

Áp lực này tạo ra tâm lý "xuất bản hay bị đào thải" đối với giảng viên cũng như với trường đại học. Nhiều giảng viên vừa phải gánh giờ dạy quá tải, vừa thiếu kỹ năng nghiên cứu chuyên sâu. Việc "mua tên" trong các nhóm nghiên cứu quốc tế trở thành lối tắt để đạt chuẩn chuyên môn.

Một giảng viên đại học tiết lộ tình thế đang rơi vào tình huống khó xử. Ngôi trường nơi vị giảng viên này đang công tác có chính sách khen thưởng rất lớn cho các bài báo khoa học đăng trên các tạp chí quốc tế hàng đầu, với mức tối đa lên đến 500 triệu đồng/người/năm.

Giảng viên này cho biết do tuổi tác đã cao nên mỗi năm chỉ có khả năng đứng tên đồng tác giả khoảng một bài báo. Mức thưởng nhận được tầm 20-30 triệu đồng.

Tuy nhiên, câu chuyện nảy sinh khi một số giảng viên khác trong trường có năng suất công bố rất cao, khoảng 10-15 bài mỗi năm. Với mức thưởng tối đa cho mỗi bài lên tới 250 triệu đồng, những người này nhanh chóng chạm “trần” thưởng 500 triệu đồng theo quy định của nhà trường.

Để không bị mất đi phần kinh phí vượt định mức, một số giảng viên đã đề xuất vị giảng viên nói trên đứng tên chung trong các bài báo của họ. Về mặt hình thức, vị giảng viên này sẽ có thêm danh mục công bố khoa học, còn những đồng nghiệp kia sẽ có thêm "suất" để nhận thưởng. Toàn bộ số tiền thưởng đứng tên hộ sau đó sẽ được chuyển lại cho tác giả thực sự.

Theo tính toán, nếu một cá nhân bị giới hạn ở mức 500 triệu đồng, nhưng thông qua việc nhờ nhiều người khác đứng tên hộ, tổng số tiền thưởng mà nhóm này thu về có thể lên tới hàng tỷ đồng mỗi năm. Trước đề nghị này, vị giảng viên cảm thấy băn khoăn. Một mặt, người này lo ngại việc từ chối sẽ gây mất lòng đồng nghiệp. Mặt khác, nếu nhận lời lại khiến họ bất an về mặt nguyên tắc đạo đức nghề nghiệp cũng như sự an toàn về lâu dài.

Để nâng cao thứ hạng trên các bảng xếp hạng quốc tế như QS hay THE, nhiều trường đại học đã áp dụng chính sách thưởng tiền mặt trực tiếp cho mỗi công bố. Chính những con số này đã vô tình biến bài báo khoa học thành một loại hàng hóa sinh lời cao. Đại học Kinh tế TP.HCM từng đưa ra mức thưởng lên tới 200 triệu đồng/bài cho các tạp chí thuộc top đầu danh mục ISI/Scopus (năm 2017); mức thưởng năm 2025 cao nhất là 110 triệu đồng/bài báo.

Năm 2023, trường Đại học Tôn Đức Thắng có mức thù lao cho một bài báo quốc tế xuất sắc lên tới 360 triệu đồng. Đại học Quốc gia Hà Nội có chính sách thưởng tới 150 triệu đồng/bài báo thuộc top 1%.

khoa hoc anh 1

Nghiên cứu tại trường đại học.

Mồi lửa cho gian lận

Khi mức thưởng lớn (20-100 triệu đồng), cơ chế kiểm soát chưa nghiêm ngặt, đặc biệt, toàn hệ thống giáo dục chưa có quy định chung về liêm chính khoa học, thật khó có thể kiểm soát chất lượng cũng như những chiêu trò gian lận.

Các tổ chức quốc tế chào mời giảng viên Việt Nam đứng tên chung vào các bài báo đã viết sẵn với mức giá công khai. Giảng viên có thể bỏ tiền túi để “mua” một vị trí tác giả, sau đó dùng bài báo đó để nhận thưởng từ trường và thu về khoản chênh lệch đáng kể.

Thực tế cũng tồn tại tình trạng “bán bài báo”. Giảng viên trường A nhưng lại ghi địa chỉ trường B (nơi có mức thưởng cao hơn) để trục lợi. Sự cộng hưởng giữa áp lực thăng tiến và lợi ích kinh tế đã dẫn đến những biến tướng nguy hại như làm suy giảm chất lượng giáo dục. Thay vì tập trung nghiên cứu giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước, nhiều giảng viên dành thời gian “săn bài” hoặc tìm cách lách luật để có đủ chỉ tiêu.

Phần thưởng lớn là động lực cần thiết để thúc đẩy khoa học, nhưng nếu thiếu đi cơ chế hậu kiểm về đóng góp thực chất của tác giả, nó sẽ trở thành mồi lửa cho sự gian lận.

Để ngăn chặn nạn mua bán bài báo, ngành giáo dục cần thay đổi tư duy đánh giá: Từ “đếm số lượng bài” sang đánh giá “chất lượng và giá trị đóng góp” của công trình, đồng thời siết chặt quy trình thẩm định liêm chính học thuật tại từng cơ sở đào tạo.

Thoát khỏi tư duy “đếm” bài báo/năm

Mới đây, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT Hoàng Minh Sơn làm việc với các cơ sở giáo dục đại học trực thuộc Bộ về tình hình triển khai Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Nghị quyết 57).

Bộ trưởng nhấn mạnh sản phẩm khoa học của đại học phải nhắm đến việc giải quyết “những bài toán lớn của các địa phương, của cả nước”, không thể chỉ dừng lại ở việc đếm số lượng bài báo hay so sánh tăng trưởng lượng công bố hàng năm.

Khoa học công nghệ phải đóng góp trực tiếp vào nền kinh tế thông qua những sản phẩm nghiên cứu có thể chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; những đề tài, nhiệm vụ khoa học giải quyết vấn đề cấp bách của đất nước.

PGS.TS Đỗ Văn Dũng, nguyên Hiệu trưởng trường Đại học Công nghệ Kỹ thuật TP.HCM, cho rằng đây là một thông điệp rõ ràng và mạnh mẽ về cách tiếp cận mới đối với hoạt động nghiên cứu khoa học nhằm xây dựng một hệ sinh thái nghiên cứu lành mạnh và thực chất hơn tại Việt Nam.

Theo ông Dũng, các hoạt động nghiên cứu cần đóng góp trực tiếp cho nền kinh tế và xã hội thông qua những kết quả cụ thể. Sản phẩm nghiên cứu phải có khả năng chuyển giao, ứng dụng vào thực tiễn; các đề tài, nhiệm vụ khoa học phải góp phần giải quyết những vấn đề cấp bách của đất nước.

Đồng thời, khoa học còn phải đóng vai trò trong việc đào tạo đội ngũ nhân lực chất lượng cao, lực lượng then chốt thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội. Những đóng góp này cần được chứng minh bằng kết quả cụ thể, chứ không chỉ là những con số trên giấy.

Cách tiếp cận này có thể xem như một bước chuyển đột phá và thực tế, bởi nó chạm tới một vấn đề đang được giới khoa học toàn cầu tranh luận nhiều năm qua, áp lực “publish or perish” (xuất bản hoặc bị đào thải). Ông Dũng cho rằng áp lực này đã tạo ra quá nhiều bài báo chất lượng thấp, thậm chí xuất hiện tình trạng “rác khoa học”.

Quan điểm của Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn không phủ nhận giá trị của công bố quốc tế mà là câu chuyện tiếp theo. Thực tế, nhiều trường đại học và quỹ nghiên cứu trên thế giới đang chuyển sang đánh giá tác động thực tế của nghiên cứu, như số bằng sáng chế, các doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu (startup), khả năng giải quyết vấn đề xã hội hay sản phẩm được thương mại hóa.

Thị trường lao động thay đổi chóng mặt, để tồn tại, con người cần học tập suốt đời. Trong bối cảnh đó, tạp chí Tri Thức - Znews giới thiệu tới độc giả cuốn Học tập suốt đời của tác giả Michelle R.Weise.

Tác phẩm cung cấp cho độc giả những đánh giá về thị trường lao động tương lai, những giải pháp cho nhu cầu vừa học vừa làm đang ngày một tăng, cùng với đó là đưa ra những cách kết nối để quá trình chuyển đổi “học-làm” diễn ra thuận lợi hơn. Từ đó, tác giả nêu lên vai trò của việc học tập suốt đời.