Giữa nhịp sống hiện đại nhiều biến chuyển, tranh dân gian Đông Hồ lặng lẽ tồn tại như một mạch nguồn văn hóa không bao giờ cạn. Sức sống bền bỉ của dòng tranh này không đến từ những điều cao xa, mà chính từ những gì gần gũi nhất từ con gà, đàn lợn, con chuột đến cảnh chăn trâu, sinh hoạt đời thường hay những trò chơi rộn ràng ngày xuân.
Mộc mạc là thế, giản dị là thế, nhưng phía sau từng nét vẽ lại là cả một thế giới ý nghĩa sâu xa, nơi người xưa gửi gắm những ước vọng, triết lý sống và cả những suy ngẫm về con người, về xã hội.

Du khách tham quan làng tranh Đông Hồ.
Sức sống từ sự mộc mạc và hàm ý sâu xa
Ở tuổi 91, đôi bàn tay của Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế có thể đã run theo thời gian, nhưng ông vẫn cần mẫn bên những bản khắc gỗ, say sưa kể cho du khách nghe về từng bức tranh. Với ông, tranh Đông Hồ chưa bao giờ là sản phẩm của cảm hứng ngẫu hứng.
Mỗi bản in là một câu chuyện có khi là truyền thuyết, có khi là ngụ ngôn, có khi lại là một lời răn dạy nhẹ nhàng mà sâu sắc. Đó là những thông điệp về đạo đức, luân lý, tín ngưỡng… được cha ông gửi lại qua hàng trăm năm, bằng thứ ngôn ngữ giản dị mà thấm thía.
Dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân, tranh Đông Hồ hôm nay phát triển thành nhiều dòng đề tài phong phú như tranh thờ, tranh lịch sử, tranh chúc tụng, tranh phương ngôn, tranh truyện, tranh cảnh vật và tranh sinh hoạt. Mỗi loại là một lát cắt của đời sống Việt xưa.

Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Đăng Chế say sưa kể chuyện về tranh như kể về chính cuộc đời mình.
Là một trong những nữ nghệ nhân tiêu biểu của làng, Nghệ nhân Ưu tú Nguyễn Thị Oanh (66 tuổi) chia sẻ đầy xúc động: "Mỗi bức tranh Đông Hồ đều mang trong mình "hồn đất, hồn người" Việt Nam, từ nét chân phương trong đời sống thường nhật đến những hoài bão, ước mong về cuộc sống sung túc, hạnh phúc".
Theo nghệ nhân Nguyễn Thị Oanh, người ta treo tranh ngày Tết không chỉ để làm đẹp không gian, mà còn để gửi gắm hy vọng. Đó có thể là ước mong con cháu đề huề, gia đình êm ấm, cũng có thể là khát vọng về một năm mới đủ đầy, sung túc. Treo một bức tranh, cũng là treo lên một niềm tin.
Để thực sự hiểu được cái hay, cái đẹp của dòng tranh này, chúng ta hãy cùng "giải mã" những thông điệp ẩn sau các tác phẩm tiêu biểu.
Vinh hoa - Phú quý: Ước nguyện vẹn tròn
Bức tranh Vinh hoa.
Đây là cặp tranh "phải có" trong mỗi gia đình dịp Tết. Không chỉ dừng lại ở lời chúc làm ăn thịnh vượng, cặp tranh còn đại diện cho sự viên mãn trong gia đình với đủ "nếp" đủ "tẻ", con trai (Vinh hoa) và con gái (Phú quý). Đây là biểu tượng của hạnh phúc và may mắn gắn liền với văn hóa phồn thực của người Việt.

Bức tranh Phú quý.

Treo bức tranh đàn gà trong nhà thể hiện ước nguyện của con người về một mái ấm hạnh phúc.
Gắn liền với đời sống nhà nông, bức đàn gà với hình ảnh gà mẹ quây quần bên 10 con gà con là biểu tượng của tình mẫu tử và sự đoàn viên. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế nhắc lại câu nói của người xưa: "Chưa chắc mười con nuôi được một mẹ, nhưng một mẹ có thể nuôi mười con", để nhấn mạnh ý nghĩa của sự phụng dưỡng và sum họp. Trong khi đó, đàn lợn lại là lời cầu chúc cho sự chăn nuôi thuận lợi, "hay ăn chóng lớn" và no đủ, gửi gắm mong cầu chăn nuôi sinh sôi nảy nở, mùa màng bội thu.

Treo tranh đàn lợn thể hiện mong ước sự ấm no, sung túc.
Bức tranh là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lý "uống nước nhớ nguồn". Dù có học hành đỗ đạt, công thành danh toại hay giữ chức trọng quyền cao, ngày Tết vẫn phải nhớ về tri ơn tổ tiên, báo công với quê hương bản quán. Đó là lời nhắc nhở muôn đời về lòng biết ơn và gốc rễ.

Bức tranh Vinh quy bái tổ là lời nhắc nhở sâu sắc về đạo lý "uống nước nhớ nguồn"
Đây là tác phẩm thể hiện trí tuệ dân gian bậc cao khi mượn loài vật để nói chuyện con người. Cảnh "Nghênh hôn" (đón dâu) thực chất là sự phê phán thói tham nhũng, hối lộ thời phong kiến. Muốn đón dâu thì họ nhà chuột phải mang chim, mang cá đến "tống lễ" (cống nạp) cho mèo được yên ổn tổ chức đám cưới, một hình ảnh châm biếm đầy hài hước nhưng cũng rất cay nghiệt về sự bất công trong xã hội phong kiến.

Đám cưới chuột là một trong những bức tranh nổi tiếng của Đông Hồ được nhiều người biết đến.
Đặc biệt, chi tiết một con chuột không có đuôi chính là nét vẽ tài hoa của nghệ nhân xưa, ngụ ý con chuột sợ hãi đến mức "cụp đuôi" đi cống nạp, bởi "chắc gì lễ vật đã đổi được sự bình yên từ mèo".
Hứng dừa và Đánh ghen: Hai mặt của hạnh phúcSự đối lập giữa hai bức tranh này tạo nên cái nhìn đa chiều về đời sống gia đình:
Hứng dừa: Ca ngợi sự thủy chung, trong trắng được ví như trái dừa mộc mạc mà ngọt lành. Với nét vẽ lãng mạn, hài hước hình ảnh người chồng trèo cây hái dừa, người vợ dùng váy hứng bên dưới còn được khắc họa lãng mạn qua câu thơ:
"Trong như ngọc trắng như ngà
Đây trèo đấy hứng cho vừa lòng nhau".
Tuy nhiên, khi xem bức tranh này các cụ cũng dí dỏm thêm câu: "Anh đồ sao khéo hững hờ. Bỏ trái dừa bên dưới mà lại hái dừa bên trên".

Bức tranh Hứng dừa.
Đánh ghen: Phản ánh bi kịch "trai năm thê bảy thiếp". Hình ảnh bà vợ hai đang mang bầu bị vợ cả xông đến cắt tóc và người chồng cố gắng khuyên ngăn đầy bất lực cùng câu thơ "Thôi thôi nuốt giận làm lành/Chi đừng sinh sự nhục mình nhục ta" cho thấy sự hòa giải gượng ép, phơi bày những góc khuất trong phong tục xưa.

Tranh Đánh ghen.
Giữa tiếng cười và nước mắt, giữa lãng mạn và hiện thực, người xem chợt nhận ra tranh Đông Hồ không né tránh cuộc sống, mà phản chiếu nó một cách chân thật nhất.
Như lời của Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế: "Tất cả những cái tốt, cái xấu, phong tục tập quán của người Việt Nam đều được các cụ gửi gắm và nằm trọn trong nội dung của tranh Đông Hồ".
Qua bao biến cố thăng trầm, tranh Đông Hồ vẫn sống mãi, vẫn lay động lòng người không chỉ bằng nét vẽ hồn nhiên mà bằng chính những thông điệp nhân văn sâu lắng. Nó khơi dậy tình yêu quê hương, nhắc nhở đạo lý làm người và nuôi dưỡng khát vọng về một cuộc sống bình an, đủ đầy.
Dòng tranh ấy không chỉ để treo lên tường hay để ngắm nhìn, mà còn để ta đọc, để suy ngẫm, và để mỗi người con đất Việt thêm trân trọng, gìn giữ và tự hào về những giá trị văn hóa quý báu mà cha ông đã dày công vun đắp, lưu truyền cho muôn đời sau.
Video: Ý nghĩa các bức tranh Đông Hồ qua lời kể của Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
Ý nghĩa các bức tranh Đông Hồ qua lời kể của Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế
Quốc Tiệp