
Trong bối cảnh thị trường lao động thay đổi nhanh dưới tác động của công nghệ và chuyển đổi số, nhiều trường đại học đang đẩy mạnh hợp tác với doanh nghiệp, đưa sinh viên tiếp cận môi trường làm việc thực tế từ sớm.
Đây được xem là giải pháp quan trọng để thu hẹp khoảng cách giữa đào tạo và yêu cầu của thị trường lao động, đồng thời giúp doanh nghiệp có nguồn nhân lực sẵn sàng làm việc ngay sau khi tốt nghiệp.
Khoảng cách lớn nhất là thiếu trải nghiệm thực tế
Trao đổi với Tri Thức - Znews, PGS.TS Nguyễn Hải Đăng, Phó hiệu trưởng trường Đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (USTH), nhận định khoảng cách lớn nhất giữa nhà trường và doanh nghiệp hiện nay nằm ở tính thực tiễn trong đào tạo.
Theo ông Đăng, sinh viên thường được trang bị kiến thức chuyên môn tốt, nhưng điều doanh nghiệp cần nhất là khả năng vận dụng kiến thức đó vào thực tế. Vì vậy, USTH chú trọng xây dựng các chương trình đào tạo gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp để sinh viên được trải nghiệm môi trường làm việc ngay trong quá trình học.
Ví dụ, chương trình Kỹ thuật hàng không được triển khai với sự hợp tác giữa USTH với Vietnam Airlines, Công ty TNHH MTV Kỹ thuật máy bay (VAECO), trường Hàng không Dân dụng Quốc gia Pháp, Viện Hàng không Vũ trụ Pháp cùng sự hỗ trợ của Airbus. Sinh viên được học chương trình đào tạo tiên tiến của Pháp, đồng thời được thực tập trực tiếp tại doanh nghiệp, được các chuyên gia trong ngành hướng dẫn và truyền đạt kinh nghiệm thực tế.
"Khi được học tập và thực hành trên chính những gì sẽ làm sau này, các em sẽ hình dung ra mình cần phải làm gì", ông Đăng nói
ThS Phạm Thái Sơn, Giám đốc Trung tâm Tuyển sinh và Truyền thông, trường Đại học Công Thương TP.HCM (HUIT), cũng cho rằng vấn đề không nằm ở việc sinh viên thiếu kiến thức mà ở chỗ còn thiếu cơ hội chuyển hóa kiến thức thành năng lực nghề nghiệp.
"Nhà trường có trách nhiệm trang bị nền tảng tri thức và phương pháp tư duy. Trong khi đó, doanh nghiệp cần những nhân sự có thể nhanh chóng tham gia vào quy trình công việc thực tế. Vì vậy, trải nghiệm nghề nghiệp, dự án thực tế và thời gian làm việc tại doanh nghiệp là yếu tố đặc biệt quan trọng", ông Sơn nhận định.
Đưa sinh viên đến gần với doanh nghiệp
Theo các nhà trường, xu hướng hiện nay không còn là chờ sinh viên đến năm cuối mới thực tập. PGS.TS Nguyễn Hải Đăng cho hay nhiều chương trình đào tạo tại USTH đã thiết kế lộ trình để sinh viên tiếp xúc với doanh nghiệp từ rất sớm.
Chẳng hạn, sinh viên ngành Kỹ thuật hàng không được tiếp cận môi trường làm việc thực tế xuyên suốt quá trình đào tạo thông qua các kỳ thực tập - 2 tháng ở năm thứ hai, 4 tháng ở năm thứ ba và 10 tháng trong năm cuối. Đối với chương trình Dược học, sinh viên được bố trí thực hành tại các cơ sở y tế với thời lượng tăng dần, gồm 1 tháng ở năm thứ ba, 2-3 tháng ở năm thứ tư và 6 tháng ở năm thứ năm.
Đồng thời, sinh viên có cơ hội tham gia nghiên cứu và làm việc tại các phòng thí nghiệm của giảng viên từ năm thứ hai, qua đó sớm tiếp cận môi trường nghiên cứu và nâng cao kỹ năng chuyên môn.
Chương trình đào tạo của nhà trường cũng yêu cầu 100% sinh viên phải thực tập tốt nghiệp thay vì lựa chọn thi hoặc làm đồ án. Sinh viên có thể thực tập tại doanh nghiệp, các viện nghiên cứu và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
Trong thời gian thực tập 3 tháng, sinh viên được trực tiếp làm việc trong môi trường nghề nghiệp thực tế để hiểu nhu cầu của đơn vị tuyển dụng, nhận diện năng lực của bản thân và vận dụng kiến thức đã học để tham gia giải quyết các vấn đề, bài toán thực tiễn.
Đây là cơ hội quan trọng giúp các em tích lũy kinh nghiệm, nâng cao kỹ năng chuyên môn, tham gia vào giải những bài toán thực tế của đơn vị tuyển dụng và sẵn sàng cho thị trường lao động sau khi tốt nghiệp.
“Những điều đó rất quan trọng để nâng cao kỹ năng và cơ hội nghề nghiệp của sinh viên”, ông Đăng chia sẻ.
|
| Sinh viên USTH thực tập tại VAECO. Ảnh: NTCC. |
Trong khi đó, HUIT cũng triển khai các mô hình học kỳ doanh nghiệp, tham quan doanh nghiệp, dự án hợp tác thực tế và chương trình trải nghiệm nghề nghiệp để sinh viên tiếp cận môi trường làm việc ngay khi còn ngồi trên ghế giảng đường.
Song song đó, nhà trường thường xuyên khảo sát nhu cầu tuyển dụng, lấy ý kiến nhà tuyển dụng và cựu sinh viên để cập nhật nội dung đào tạo. Các học phần kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số, ngoại ngữ, công nghệ mới và ứng dụng AI cũng được tăng cường nhằm đáp ứng xu hướng tuyển dụng hiện nay.
Theo ông Sơn, tỷ lệ sinh viên có việc làm sau tốt nghiệp tại HUIT đạt từ 80-95%, đặc biệt ở các lĩnh vực như kinh tế, luật, công nghệ và kỹ thuật. Một bộ phận đáng kể sinh viên được doanh nghiệp tuyển dụng ngay sau thời gian thực tập.
Doanh nghiệp tham gia ngày càng sâu vào đào tạo
Không chỉ tiếp nhận sinh viên thực tập, nhiều doanh nghiệp hiện tham gia trực tiếp vào quá trình xây dựng chương trình đào tạo.
Tại USTH, ông Đăng cho biết các doanh nghiệp là thành viên trong Hội đồng hoàn thiện chương trình đào tạo, cùng với giảng viên, sinh viên và cựu sinh viên.
Thông qua các cuộc họp định kỳ, doanh nghiệp góp ý về kỹ năng, kiến thức mới để sinh viên đáp ứng tốt hơn nhu cầu tuyển dụng trong tương lai. Những ý kiến từ nhà tuyển dụng và cựu sinh viên giúp nhà trường cập nhật chương trình đào tạo sát với thực tiễn hơn.
Hầu hết ngành tại USTH đều có sự tham gia đào tạo của các chuyên gia đến từ doanh nghiệp với tư cách là giảng viên hoặc diễn giả trong các buổi seminar, hội thảo định hướng nghề nghiệp cho sinh viên. Thông qua những hoạt động này, sinh viên được cập nhật những xu hướng mới của ngành và hiểu rõ hơn về yêu cầu của môi trường làm việc chuyên nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.
Bên cạnh đó, USTH phát triển các mô hình hợp tác với doanh nghiệp thông qua Trung tâm Đổi mới sáng tạo và Khởi nghiệp. Nhà trường cũng có mô hình phòng thí nghiệm chung giữa trường đại học và doanh nghiệp (Joint Lab). Tại đây, sinh viên tham gia nghiên cứu, vừa thực hành, vừa trực tiếp thực hiện các công việc, dự án cùng doanh nghiệp, qua đó tích lũy kinh nghiệm và nâng cao khả năng được tuyển dụng sau này.
Tương tự, theo ông Sơn, doanh nghiệp hiện tham gia vào nhiều khâu của quá trình đào tạo, từ góp ý xây dựng chương trình, giảng dạy chuyên đề, tổ chức hội thảo nghề nghiệp, tiếp nhận thực tập, đồng thời đóng góp ý kiến trong việc đánh giá chuẩn đầu ra và năng lực nghề nghiệp của sinh viên.
"Chính sự tham gia này giúp chương trình đào tạo luôn bám sát yêu cầu thực tế của thị trường lao động", ông Sơn nói.
| |
| Sinh viên trường Đại học Công thương TP.HCM. Ảnh: Hoài Bảo. |
Đại học phải chuẩn bị cho nhu cầu nhân lực của 10-20 năm tới
Ở góc độ chính sách, đại biểu Quốc hội Nguyễn Thị Việt Nga cho rằng giáo dục đại học cần chuyển mạnh từ mô hình đào tạo dựa trên năng lực sẵn có của nhà trường sang đào tạo theo nhu cầu phát triển của đất nước, nhu cầu của thị trường lao động.
Tuy nhiên, theo bà, điều này không có nghĩa là chạy theo thị trường ngắn hạn, càng không phải biến đại học thành nơi chỉ cung cấp lao động kỹ thuật trước mắt. Đại học vẫn phải giữ sứ mệnh khai phóng, nghiên cứu, phát triển tư duy, hình thành năng lực sáng tạo và trách nhiệm xã hội.
"Đại học phải trả lời được câu hỏi đất nước trong 10-20 năm tới cần đội ngũ nào, cần những năng lực gì, cần những ngành nghề mới nào và nhà trường phải chuẩn bị gì từ hôm nay", bà Nga nhấn mạnh.
Để làm được điều đó, bà Nga cho rằng cần đổi mới mạnh công tác dự báo nhân lực quốc gia. Doanh nghiệp cần tham gia sâu hơn vào quá trình xây dựng chương trình, tổ chức thực tập, đánh giá chuẩn đầu ra. Còn các trường đại học phải được trao quyền tự chủ thực chất, nhưng đi kèm trách nhiệm giải trình về chất lượng đào tạo, tỷ lệ việc làm, năng lực nghiên cứu và đóng góp cho phát triển quốc gia.
Theo bà, trước hết, các trường đại học phải thay đổi tư duy đào tạo. Không thể tiếp tục quan niệm rằng sinh viên học xong một chương trình cố định trong 4 năm là đủ cho cả một đời nghề nghiệp. Thay vào đó, năng lực quan trọng nhất mà đại học cần trao cho sinh viên là năng lực tự học, tự cập nhật, tự thích ứng.
Chương trình đào tạo cần linh hoạt hơn, liên ngành hơn và gắn với thực tiễn hơn. Các ngành học truyền thống cần được bổ sung yếu tố dữ liệu, công nghệ, ngoại ngữ, quản trị và kỹ năng mềm.
Bên cạnh đó, trường đại học phải trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo thay vì chỉ là nơi truyền đạt kiến thức. Sinh viên cần được tham gia nghiên cứu, khởi nghiệp và giải quyết các vấn đề thực tế của doanh nghiệp, địa phương và cộng đồng.
Ngoài ra, đội ngũ giảng viên cũng cần đổi mới, không chỉ là người giảng bài, mà còn là nhà nghiên cứu, người hướng dẫn đổi mới sáng tạo, người kết nối sinh viên với môi trường nghề nghiệp. Vì vậy, chính sách phát triển giảng viên, thu hút chuyên gia từ doanh nghiệp, từ viện nghiên cứu, từ nước ngoài tham gia giảng dạy cần được coi trọng hơn.
Xin được nói thẳng (GS Hoàng Tụy) và Ước vọng cho học đường (GS Huỳnh Như Phương): Cuốn sách của hai nhà giáo tiên phong tại Việt Nam với nhiều suy nghĩ và những trăn trở của hai ông về tương lai nền giáo dục nước nhà.