
Bên trong một chiếc đò dọc ở miền Tây thập niên 1990, hành khách có thể giăng võng nằm nghỉ vì đường rất xa, có khi phải đi suốt đêm mới tới - Ảnh: Tư liệu
Sống ở Sài Gòn lâu ngày, anh Nguyễn Văn Chín (quê ở Cà Mau) quen tai với những từ ngữ phổ thông gãy gọn, đúng chuẩn văn viết, để rồi khi bước chân xuống đò dọc về lại miệt vườn, nghe mấy dì, mấy cậu "bắn" tiếng ở xẻo, ở rạch, anh mới giật mình.
Anh tự nghĩ: "Chèn ơi, những âm thanh bình dị, nghe mát ruột mà mất tiêu, biết bao lâu rồi mới nghe lại".
Những màn "la rầy" vừa giận vừa thương ở miền Tây
Cái chê của người miền Tây hiếm khi nào mang yếu tố nặng nề. Họ ví von nhẹ nhàng nhưng với người hiểu sẽ "bật ngửa" vì quá đúng.
Sau nhiều năm bôn ba giữa nhịp sống hối hả nơi phố thị, những từ ngữ địa phương đậm chất miền sông nước cứ thưa vắng dần trong tâm trí anh Chín. Lần này về quê đám giỗ ông bà, anh quyết định chở cả gia đình nhỏ về ở chơi cả ngày thứ 7 và chủ nhật.
Đám giỗ ở miền Tây thường có hai ngày, mấy anh em họ hàng tụm ba tụm bảy bên hông nhà lặt rau, làm gà. Cậu Ba bước ra, thấy thằng Tèo - đứa cháu từ thành phố về - đang loay hoay nhóm bếp củi, khói thì mịt mù nhưng chưa có lửa ngọn.
Cậu Ba liền chê: "Trời thần đất lỡ thiệt, có nhóm lửa thôi mà làm trớt quớt. Đúng là cái thằng cản gió, mày xê ra coi cậu làm nè, cho lẹ mậy".
Nghe câu này, anh Chín thấy "đã" trong người, như trở về tuổi thơ. Hồi xưa anh cũng hay bị ông ngoại mắng yêu như vậy.
Chữ "trớt quớt" (thất bại, không ăn nhập vào đâu) kết hợp với "thằng cản gió" vụng về, chỉ làm vướng tay vướng chân, nghe sao mà nó vừa giận vừa thương. Thằng Tèo không hề tự ái, chỉ biết gãi đầu cười trừ.
Chưa hết, phía sàn nước, tiếng dì Năm oang oang khi thấy em họ tôi đang ngồi gỡ lưới cá, rị mọ từng cái vây rất lâu, nhưng miệng thì cứ luyên thuyên kể chuyện trên mạng. Dì Năm liền gõ gõ vô cái thùng tạo chú ý: "Mày làm ăn kiểu gì vậy thằng đâm xuồng bể. Đang gấp mà ở đó ba láp ba xàm hoài, lo mần cái tay cho lẹ đi, hết biết luôn rồi".
Cụm từ "thằng đâm xuồng bể" hay "đâm bang" là bài học nhớ đời cho những ai làm việc lơ là, hay nói leo hoặc làm chuyện ngược đời, gây hư hại.
Rồi "ba láp ba xàm" (bá láp bá xàm) là những chuyện không hữu ích, không căn cứ thực tế. "Hết biết luôn" chính là cái lắc đầu ngán ngẩm, bất lực nhưng đầy bao dung của người lớn tuổi xứ này.
Nghe được mấy câu, anh Chín thấy thú vị lắm, lâu lâu được xuyên không trở về tuổi thơ. Anh kể, giờ thì tui nhớ lại "một bụng" từ ngữ của ông ngoại tui nè: cái thằng "thiên thần thổ dzõ", nói chuyện "trên trời dưới đất gì không"; nó "cà lơ phất phơ" lắm, chắc nghe không rõ nên đi "mút chỉ cà tha", "tuốt luốt" rồi, hơi đâu mà đợi...

Cảnh nấu ăn quây quần bên nhau ở miền Tây mỗi khi xóm giềng có đám tiệc - Ảnh: AI
Đến những lời khen "dữ thần"
Nếu như cái chê của người miền Tây mang đậm tính trào phúng, thì lời khen lại rất hào sảng, khiến người nghe "mát ruột mát gan". Họ không khen xã giao, kiểu "đẹp lắm", "giỏi quá" mà phải có trạng từ nhấn nhá thêm.
Chiều tối, khi mâm cúng tiên thường chuẩn bị dọn lên, cô em họ của anh Chín bước ra phụ bưng bê, trong bộ bà ba "cách tân" nhưng vẫn thướt tha vẻ truyền thống, tóc bới cao gọn gàng, điểm thêm cái nơ ngọc trai sáng trưng.
Dì Bảy vừa thấy, liền ngưng ly trà, trầm trồ: "Mèn ơi, nay con nhỏ diện bộ này nhìn bảnh tỏn dữ thần". "Dễ thương ác chiến nghen mậy", cậu Ba bồi vô thêm.
Cụm từ "dữ thần" hay "ác chiến" tùy ngữ cảnh mà có khi có nghĩa nặng nề, nhưng dưới làn môi của cô chú miền Tây, nó khuếch đại lời khen lên mức cao, thể hiện sự nể phục đỉnh điểm.
Lúc nhập tiệc, món lẩu mắm bốc khói nghi ngút, ăn kèm các loại rau đồng, được bưng ra. Gắp thử một miếng, chú Ba hớp một cốc rượu đế, khà một tiếng dài, vỗ đùi cà bộp, rồi nhìn qua mâm phụ nữ, khen nức nở: "Món này ai mần mà ngon nhức nách vậy bay? Tay nghề cứng cựa à nghen". "Hết sẩy con bà bảy luôn rồi", em Thành đệm vô.
Câu khen "nhức nách" và "hết sẩy con bà bảy" làm cả nhà rộn rã hẳn lên, bà mợ nấu bếp ở nhà dưới nghe mát bụng nên dõng dạc, "còn ai trồng khoai đất này".

Một mâm đám giỗ ở miền Tây thường có lẩu cù lao. Đám giỗ là dịp để gia đình quyến thuộc sum vầy vui vẻ, thăm hỏi nhau sau những ngày tứ tán vì cuộc sống mưu sinh - Ảnh: AI
Sáng hôm sau, ngày cúng chính, nhưng cậu Ba còn xỉn nguội, do hôm qua ăn ít mà "vui là chính", nên sáng lại đói và mệt lả, nằm thở dốc. Mợ Ba bèn lên nhà trên méc với chị chồng: "Rồi, ổng đang nằm thở thác lác ở trỏng. Hôm qua xỉn quắc cần câu luôn".
Dì Năm cười ha hả, kết: "Quải chè đậu".
"Thở thác lác", hay "nằm thở thác lác" được người Nam Bộ diễn tả trạng thái kiệt sức sau khi vận động quá sức, mệt đến mức chỉ biết nằm yên một chỗ và thở dốc.
Nguồn gốc ẩn dụ này từ đặc tính của cá thác lác, khi vừa bị kéo lên khỏi mặt nước là há miệng thở như sắp chết tới nơi. Miền Tây còn nói "thở không ra hơi", "mệt đứt hơi". Còn "xỉn quắc cần câu", đương nhiên là xỉn tới mất kiểm soát, dáng đi oằn xuống như cần câu bị uốn cong.
Nhà văn Vũ Thống Nhất, một người nghiên cứu văn hóa miền Tây, chia sẻ ngôn ngữ luôn thay đổi theo sự phát triển của xã hội, lịch sử và con người. Có những từ ngữ sau một thời gian không còn được dùng nữa, gọi là từ cổ hoặc từ hiếm.
Nhiều nguyên nhân dẫn đến sự thay đổi này như: sự thay đổi của vật chất và công nghệ, sự xuất hiện từ mới thay thế, giao lưu văn hóa và ngôn ngữ, sự biến đổi về cấu trúc xã hội và thể chế, quy luật tiết kiệm của ngôn ngữ.
Nhưng đối với những người lớn tuổi ở quê thì họ vẫn mộc mạc, ở đâu thay đổi thì kệ, họ vẫn bình dị dùng các cụm từ nguyên văn đó, nói ra là hiểu liền, không cần diễn tả lòng vòng.
Link nội dung: https://phunuvathoidaivn.com/ve-mien-tay-an-gio-cuoi-xiu-voi-nhung-cau-khen-che-thu-vi-a213438.html