Thời gian qua, các thủ đoạn sử dụng AI, Deepfake ngày càng tinh vi. Đối tượng có thể giả mạo hình ảnh, giọng nói của người thân, cán bộ cơ quan nhà nước hoặc cá nhân khác, để tạo dựng tình huống giả, yêu cầu chuyển tiền, cung cấp thông tin hoặc thực hiện giao dịch. Trước những nguy cơ mới, hệ thống pháp luật Việt Nam đã bổ sung nhiều quy định nhằm tăng cường quản lý, bảo vệ người dùng và xử lý các hành vi lợi dụng AI trái pháp luật.
Luật Trí tuệ nhân tạo số 134/2025/QH15 được Quốc hội khóa XV thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 1/3/2026. Đây là đạo luật chuyên ngành về trí tuệ nhân tạo, đặt ra các nguyên tắc quản lý, phát triển và sử dụng AI theo hướng lấy con người làm trung tâm, bảo đảm an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Luật đồng thời nghiêm cấm việc lợi dụng AI để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, trong đó có việc tạo nội dung giả mạo phục vụ lừa đảo hoặc gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Bên cạnh đó, Luật An ninh mạng số 116/2025/QH15 quy định tại điểm g khoản 2 Điều 7 nghiêm cấm việc sử dụng AI hoặc công nghệ mới để giả mạo video, hình ảnh, giọng nói của người khác trái quy định của pháp luật. Đồng thời, nghiêm cấm việc tạo lập, đăng tải, phát tán các thông tin vi phạm pháp luật trên không gian mạng.
Nghị định số 330/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực từ ngày 19/8/2026. Theo khoản 2 Điều 34 Nghị định này, hành vi sử dụng giấy tờ tùy thân của người khác, giấy tờ giả hoặc sử dụng công nghệ AI, Deepfake và các biện pháp công nghệ cao để giả mạo dữ liệu sinh trắc học như: khuôn mặt, giọng nói nhằm xác thực tài khoản trái phép có thể bị phạt tiền từ 30 - 50 triệu đồng.
Ngoài ra, Nghị định 330/2026/NĐ-CP còn quy định nhiều mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong thu thập, xử lý dữ liệu cá nhân, vận hành hệ thống AI và sử dụng công nghệ mới gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.
Việc sử dụng AI, Deepfake không đương nhiên cấu thành một tội danh riêng. Tuy nhiên, tùy mục đích, tính chất, hậu quả và phương thức thực hiện, người vi phạm có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo các tội danh tương ứng. Trường hợp sử dụng AI, Deepfake để gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản có thể bị xem xét về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Điều 174 Bộ luật Hình sự nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Trường hợp đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông và thỏa mãn các dấu hiệu luật định có thể bị xử lý theo Điều 288 Bộ luật Hình sự. Theo quy định hiện hành, khung hình phạt cao nhất của tội danh này có thể lên đến 7 năm tù.