Bộ GD&ĐT quy định những việc Ban đại diện cha mẹ học sinh không được làm

Ban đại diện cha mẹ học sinh không thuộc cơ cấu của cơ sở giáo dục, không có tư cách pháp nhân, đồng thời không được can thiệp vào quản lý, điều hành và hoạt động chuyên môn của nhà trường.

Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành Thông tư 81/2026/TT-BGDĐT về Điều lệ Ban đại diện cha mẹ học sinh, áp dụng đối với cơ sở giáo dục mầm non (công lập, dân lập và tư thục), cơ sở phổ thông (công lập và tư thục) và các chủ thể có liên quan. Thông tư có hiệu lực thi hành từ ngày 15/11/2026.

Hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, dân chủ, công khai

Theo Điều lệ, Ban đại diện cha mẹ học sinh được tổ chức và hoạt động trên cơ sở tự nguyện, dân chủ, công khai, minh bạch; thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định và các quy định khác của pháp luật có liên quan.

Ban đại diện cha mẹ học sinh phối hợp với cơ sở giáo dục và cha mẹ học sinh trong chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non, học sinh; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp và lợi ích tốt nhất của trẻ mầm non, học sinh; phù hợp với mục tiêu, chương trình giáo dục và điều kiện thực tế.

Việc phối hợp giữa gia đình, cơ sở giáo dục và Ban đại diện cha mẹ học sinh được thực hiện trên cơ sở tôn trọng, hợp tác, kịp thời, đúng chức năng, trách nhiệm của mỗi bên; bảo đảm quyền của cha mẹ học sinh được thông tin, tham gia ý kiến, phản ánh, kiến nghị theo quy định.

Đáng chú ý, Ban đại diện cha mẹ học sinh chỉ hoạt động trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao, không thay thế hoặc làm chuyển giao trách nhiệm của gia đình, cơ sở giáo dục, người đứng đầu cơ sở giáo dục, nhà giáo và các chủ thể liên quan.

Ban đại diện cũng không được can thiệp vào hoạt động quản trị, quản lý, điều hành và chuyên môn của cơ sở giáo dục.

Bộ GD&ĐT quy định những việc Ban đại diện cha mẹ học sinh không được làm - Ảnh 1.

Ban đại diện cha mẹ học sinh không được can thiệp hoạt động chuyên môn của nhà trường (Ảnh: Quốc Tiệp).

Điều lệ nhấn mạnh hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh và việc phối hợp giữa gia đình với cơ sở giáo dục phải thiết thực, tiết kiệm; bảo đảm tự nguyện, không làm phát sinh khoản đóng góp bắt buộc hoặc nghĩa vụ tài chính trái quy định của pháp luật.

Đồng thời, quá trình hoạt động phải bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân, đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình theo quy định của pháp luật.

Không thuộc cơ cấu tổ chức của nhà trường

Ban đại diện cha mẹ học sinh là tổ chức đại diện của cha mẹ học sinh, do cha mẹ học sinh bầu theo quy định của Điều lệ, được thành lập tại nhóm, lớp và cơ sở giáo dục.

Tuy nhiên, Ban đại diện cha mẹ học sinh không thuộc cơ cấu tổ chức của cơ sở giáo dục, không có tư cách pháp nhân, con dấu và tài khoản riêng.

Theo Điều lệ, Ban đại diện cha mẹ học sinh đại diện, tập hợp và phản ánh ý kiến, nguyện vọng, kiến nghị của cha mẹ học sinh; phối hợp với cơ sở giáo dục và cha mẹ học sinh trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ mầm non, học sinh theo quy định.

Ban đại diện cha mẹ học sinh chịu trách nhiệm trước cha mẹ học sinh đã bầu ra Ban đại diện về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền theo quy định của Điều lệ.

Hoạt động của Ban đại diện được thực hiện theo chế độ tập thể. Quyết định của Ban đại diện được thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên tán thành.

Những việc Ban đại diện cha mẹ học sinh không được làm

Điều lệ mới quy định cụ thể 9 nhóm hành vi Ban đại diện cha mẹ học sinh và thành viên Ban đại diện không được thực hiện.

Thứ nhất, Ban đại diện cha mẹ học sinh không được can thiệp vào tổ chức bộ máy, quản trị, quản lý, điều hành và hoạt động chuyên môn của cơ sở giáo dục; can thiệp vào việc thực hiện chương trình, nội dung, phương pháp giáo dục, kiểm tra, đánh giá trẻ mầm non, học sinh; tham gia đánh giá, xếp loại cán bộ quản lý, nhà giáo, nhân sự hỗ trợ giáo dục.

Thứ hai, lợi dụng danh nghĩa Ban đại diện cha mẹ học sinh để thực hiện hành vi trái pháp luật hoặc trái quy định của Điều lệ; cản trở hoạt động của cơ sở giáo dục; xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

Thứ ba, đặt ra khoản đóng góp bắt buộc; ấn định hoặc phân bổ mức hỗ trợ, mức hỗ trợ bình quân, mức hỗ trợ tối thiểu, thời hạn hỗ trợ; ép buộc, gây áp lực đối với cha mẹ học sinh trong việc hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh.

Thứ bốn, sử dụng danh nghĩa Ban đại diện cha mẹ học sinh để vận động tài trợ cho cơ sở giáo dục; thu, tiếp nhận, quản lý hoặc sử dụng tài trợ dành cho cơ sở giáo dục.

Thứ năm, thu, tiếp nhận hoặc quản lý tiền hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh; sử dụng hàng hóa, dịch vụ được hỗ trợ không đúng mục đích; lợi dụng hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh để vụ lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân.

Thứ sáu, phân biệt đối xử hoặc gây bất lợi đối với trẻ mầm non, học sinh, cha mẹ học sinh vì việc tham gia hoặc không tham gia hoạt động, hỗ trợ hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh.

Thứ bảy, thu thập, cung cấp, sử dụng hoặc công khai trái quy định của pháp luật thông tin, dữ liệu cá nhân, thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của trẻ mầm non, học sinh, cha mẹ học sinh và cá nhân có liên quan.

Thứ tám, thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh không đúng quy định của Điều lệ; thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh liên trường, ở cấp hành chính hoặc tổ chức, đầu mối đại diện cha mẹ học sinh khác ngoài quy định của Điều lệ.

Thứ chín, thực hiện hành vi khác bị nghiêm cấm theo quy định của pháp luật.

Với các quy định trên, Điều lệ xác định rõ hơn ranh giới giữa vai trò đại diện, phối hợp của cha mẹ học sinh với trách nhiệm quản lý, điều hành và chuyên môn của cơ sở giáo dục, qua đó hướng hoạt động của Ban đại diện vào mục tiêu phối hợp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục trẻ mầm non, học sinh.

Link nội dung: https://phunuvathoidaivn.com/bo-gddt-quy-dinh-nhung-viec-ban-dai-dien-cha-me-hoc-sinh-khong-duoc-lam-a209960.html