Kỳ vọng kinh tế AI đóng góp 6% GDP
Chính phủ vừa ban hành Chiến lược quốc gia về Trí tuệ nhân tạo đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI tại ASEAN và châu Á.
Phát biểu tại họp báo thường kỳ tháng 8/2026 của Bộ Khoa học và Công nghệ, ông Nguyễn Khắc Lịch - Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo cho biết chiến lược xác định bước chuyển từ nghiên cứu, phát triển và ứng dụng AI sang chuyển đổi toàn diện quốc gia bằng AI.
Theo đó, AI được xác định là năng lực cốt lõi ngay từ khâu xác định bài toán, thiết kế, tổ chức đến vận hành. Nhân lực, hạ tầng và dữ liệu là nền tảng, trong khi thể chế và quản trị AI được xác định là khâu đột phá.
Theo ông Nguyễn Khắc Lịch, chiến lược xác định 6 quan điểm xuyên suốt, trong đó nhấn mạnh việc triển khai AI phải bảo đảm sự lãnh đạo thống nhất, quản lý tập trung, lấy con người làm trung tâm và gắn trách nhiệm người đứng đầu với kết quả thực hiện.
Việt Nam sẽ phát triển nhân lực, phổ cập kỹ năng AI trên toàn dân, đồng thời phát triển đồng bộ hạ tầng, dữ liệu, mô hình và nền tảng AI, bảo đảm an toàn, an ninh và chủ quyền AI.

Ông Nguyễn Khắc Lịch - Cục trưởng Cục Công nghệ số và Trí tuệ nhân tạo phát biểu tại họp báo.
Doanh nghiệp AI Việt Nam được xác định là lực lượng chủ lực, tập trung phát triển các sản phẩm, dịch vụ "Make in Viet Nam" và doanh nghiệp AI-native. Hợp tác quốc tế được triển khai gắn với năng lực nội sinh, tự chủ chiến lược, đa dạng hóa đối tác, công nghệ và chuỗi cung ứng.
Đến năm 2030, Việt Nam phấn đấu trở thành một trong những trung tâm có năng lực nghiên cứu, phát triển, ứng dụng và đồng kiến tạo giá trị về AI trong ASEAN và châu Á. Các mục tiêu của chiến lược được xây dựng theo 4 tầng gồm tác động, kết quả, sản phẩm đầu ra và đầu vào.
Ở tầng tác động, Việt Nam đặt mục tiêu thuộc nhóm 3 nước dẫn đầu Đông Nam Á về nghiên cứu, phát triển AI; kinh tế AI đạt khoảng 6% GDP; năng suất lao động trong các ngành ứng dụng AI tăng 10-15%. Xuất khẩu sản phẩm, dịch vụ và giải pháp AI được kỳ vọng đạt khoảng 5 tỷ USD.
Ở tầng kết quả, 60% doanh nghiệp ứng dụng AI được kỳ vọng cải thiện hiệu quả hoạt động. Chiến lược đặt mục tiêu 100% cán bộ, công chức, viên chức sử dụng AI công vụ hằng tuần; 60% quyết định điều hành được hỗ trợ bởi dữ liệu và AI. Mức độ hài lòng với dịch vụ công có AI tăng ít nhất 30%.
Chiến lược cũng đặt mục tiêu 100% bộ, ngành, địa phương có kế hoạch triển khai; 100% dịch vụ công trực tuyến và hồ sơ thủ tục hành chính được hỗ trợ bởi AI.
Việt Nam sẽ hình thành nền tảng điều phối năng lực tính toán AI quốc gia, nền tảng đánh giá mô hình AI tiếng Việt, ít nhất 5 nền tảng AI dùng chung, 10 thương hiệu AI Việt Nam và 8 mô hình AI tiếng Việt theo 4 quy mô.
Về nhân lực, đến năm 2030 Việt Nam đặt mục tiêu phát triển 10.000 nhân lực AI trình độ cao và 50.000 nhân lực trình độ đại học trở lên có năng lực ứng dụng AI. Đồng thời, 500.000 lao động sẽ được đào tạo, đào tạo lại để triển khai, vận hành AI; 10 triệu lao động đã qua đào tạo được trang bị kỹ năng AI cơ bản.
Ở tầng đầu vào, tổng đầu tư cho AI được đặt mục tiêu đạt 1-1,5% GDP mỗi năm. Năng lực tính toán hướng tới khoảng 560 EFLOPS BF16 hoặc 1.100 EFLOPS FP8, với công suất điện khoảng 500 MW.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam phấn đấu thuộc nhóm 10 quốc gia dẫn đầu châu Á về nghiên cứu, phát triển, làm chủ AI và chuyển đổi AI quốc gia. AI trở thành nền tảng vận hành chủ đạo của Nhà nước, nền kinh tế và xã hội.

Việt Nam đặt tham vọng kinh tế AI chiếm 6% GDP vào năm 2030 (Ảnh minh họa).
Theo ông Nguyễn Khắc Lịch, để hiện thực hóa các mục tiêu, chiến lược xác định 9 trụ cột phát triển gồm: nhân lực AI và kỹ năng AI toàn dân; dữ liệu, mô hình AI; hạ tầng AI; nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ AI; AI trong quản trị quốc gia; AI cho các ngành, lĩnh vực; AI cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã; hệ sinh thái AI; quản trị AI an toàn, đáng tin cậy.
AI sẽ được thúc đẩy trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội trọng điểm, từ khoa học, công nghiệp, nông nghiệp, tài chính, y tế, giáo dục đến văn hóa, môi trường, quốc phòng và an ninh.
Chiến lược đồng thời đưa ra 6 nhóm giải pháp đột phá, gồm hoàn thiện thể chế, chính sách, pháp luật; điều phối quốc gia và trách nhiệm thực thi; huy động nguồn lực, bảo đảm kinh phí; hợp tác quốc tế và xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn; tuyên truyền, nâng cao nhận thức và văn hóa sử dụng AI có trách nhiệm; đo lường, giám sát và đánh giá.
Việc triển khai gắn với trách nhiệm người đứng đầu và nguyên tắc "6 rõ": rõ người, rõ việc, rõ thời gian, rõ trách nhiệm, rõ sản phẩm và rõ thẩm quyền.
Chiến lược được cụ thể hóa bằng 32 chỉ tiêu và 97 nhiệm vụ, giải pháp thuộc 14 nhóm. Mỗi nhiệm vụ xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, đơn vị thực hiện, sản phẩm hoặc kết quả và thời gian thực hiện.
Make in Viet Nam 2026 lần đầu có hạng mục riêng cho AI
Cũng tại sự kiện ông Nguyễn Khắc Lịch đã công bố, phát động Giải thưởng "Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam" năm 2026.
Giải thưởng được tổ chức thường niên từ năm 2020 nhằm cụ thể hóa chủ trương phát triển doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam, đồng thời tạo động lực để các doanh nghiệp nghiên cứu, sáng tạo và phát triển sản phẩm công nghệ do người Việt làm chủ.
Giải thưởng hướng tới tôn vinh những sản phẩm do người Việt nghiên cứu, thiết kế, sáng tạo và sản xuất tại Việt Nam, có khả năng giải quyết các bài toán thực tiễn trong nước, đồng thời từng bước đưa thương hiệu công nghệ Việt vươn ra thị trường quốc tế.
Bên cạnh hoạt động tôn vinh, Giải thưởng "Sản phẩm công nghệ số Make in Vietnam" còn được kỳ vọng trở thành kênh hỗ trợ doanh nghiệp công nghệ số xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư và mở rộng thị trường trong nước cũng như quốc tế.

Vinh danh các sản phẩm đạt Giải Vàng sản phẩm công nghệ Make in Vietnam 2025 (Ảnh: Bộ KH&CN).
Sau 6 năm tổ chức, giải thưởng đã thu hút hơn 1.000 sản phẩm dự thi và vinh danh 299 sản phẩm công nghệ số Make in Viet Nam xuất sắc. Nhiều sản phẩm đạt giải đã được ứng dụng trong chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số và một số sản phẩm đã được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.
Theo ông Lịch, Giải thưởng Make in Viet Nam đã trở thành sự bảo chứng uy tín và bệ phóng thị trường cho doanh nghiệp công nghệ số Việt Nam.
Năm 2026, giải thưởng bước sang năm thứ bảy với 8 hạng mục. Trong đó, 5 hạng mục được phân theo ngành, lĩnh vực ứng dụng gồm: Công nghiệp và xây dựng; Nông nghiệp, tài nguyên và môi trường; Giao thông vận tải, bưu chính và logistics; Giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; Tài chính, ngân hàng, thương mại, dịch vụ.
Ba hạng mục còn lại gồm Sản phẩm công nghệ số xuất sắc cho thị trường nước ngoài; Sản phẩm trí tuệ nhân tạo xuất sắc và Sản phẩm công nghệ số tiềm năng xuất sắc. Mỗi hạng mục có 1 Giải Vàng, 1 Giải Bạc, 1 Giải Đồng và Top 10.
Đáng chú ý, năm nay lần đầu tiên Giải thưởng Make in Viet Nam dành riêng một hạng mục cho Sản phẩm trí tuệ nhân tạo xuất sắc.
Ông Nguyễn Khắc Lịch cho biết việc bổ sung hạng mục này nhằm bám sát chủ trương ưu tiên phát triển, làm chủ công nghệ AI, đồng thời thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam phát triển các sản phẩm AI có giá trị gia tăng cao.
AI được đánh giá là công nghệ có khả năng lan tỏa nhanh và sâu rộng tới nhiều ngành, lĩnh vực, qua đó tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế. Việc dành riêng một hạng mục cho AI được kỳ vọng góp phần thúc đẩy hệ sinh thái AI, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam.
"Việt Nam đã có doanh nghiệp đủ năng lực xây dựng mô hình, thuật toán và dữ liệu tiếng Việt của riêng mình", ông Lịch nói, đồng thời cho rằng các doanh nghiệp này cần một sân chơi tương xứng để phát triển.
Ban Tổ chức bắt đầu tiếp nhận hồ sơ tham dự Giải thưởng Make in Viet Nam 2026 từ ngày 28/8 đến hết ngày 15/10/2026.
Link nội dung: https://phunuvathoidaivn.com/viet-nam-dat-muc-tieu-vao-nhom-3-nuoc-dan-dau-asean-ve-ai-a202672.html