Bản chất kì thi thay đổi
Giai đoạn 2015-2019, Bộ GD&ĐT quyết định gộp 2 kì tốt nghiệp THPT và 3 chung thành kì thi THPT Quốc gia với mục tiêu kì thi “2 trong 1”: vừa xét tốt nghiệp THPT, vừa là căn cứ pháp lí để các trường ĐH, CĐ xét tuyển sinh. Do đó, tính chất của kì thi mang tính cạnh tranh khốc liệt, đòi hỏi một quy trình tổ chức có sự tham gia của các bên độc lập nhằm bảo đảm tính minh bạch tối đa.
Tuy nhiên, từ năm 2020, trước bối cảnh dịch COVID-19 và lộ trình tự chủ giáo dục, Bộ GD&ĐT đã chuyển kì thi THPT Quốc gia thành kì thi tốt nghiệp THPT, chủ yếu phục vụ mục đích đánh giá hoàn thành chương trình phổ thông, xét tốt nghiệp. Kết quả của kì thi cũng có thể được các trường ĐH, CĐ sử dụng trong tuyển sinh theo tinh thần tự chủ. Sự thay đổi mục đích cốt lõi kéo theo sự thay đổi toàn diện về vai trò của khối các trường ĐH trong chu trình tổ chức thi cử.
Thí sinh thi tốt nghiệp THPT 2026. Ảnh: DUY PHẠM
Từng làm công tác thanh tra trong cả hai giai đoạn, một nguyên lãnh đạo Thanh tra Bộ GD&ĐT thông tin, đối với công tác tổ chức thi, tại kì thi THPT Quốc gia, trường ĐH là đơn vị đồng chủ trì, phối hợp trực tiếp với các địa phương. Giảng viên nắm giữ các vị trí chủ chốt như phó trưởng điểm thi, 50% giám thị trong phòng thi là của các trường ĐH.
Số lượng giảng viên huy động làm công tác thi lên đến hàng vạn người. Đối với công tác chấm thi, trường ĐH cũng tham gia trực tiếp trong kì thi THPT Quốc gia. Giảng viên ĐH vừa tham gia công tác kiểm tra chấm thi, vừa tham gia trực tiếp chấm thi trắc nghiệm.
Còn tại kì thi tốt nghiệp THPT, trường ĐH rút lui hoàn toàn khỏi vai trò tổ chức trực tiếp. Các trường ĐH đứng ở thế độc lập với kì thi. Giảng viên ĐH chỉ còn làm công tác kiểm tra tại điểm thi hoặc hội đồng chấm thi với số lượng từ 2-3 người/điểm thi. Số lượng giảng viên ĐH tham gia chỉ còn dừng lại ở vài nghìn người.
Có thể thấy, ở kì thi THPT Quốc gia, giảng viên ĐH đóng vai trò kiểm soát độc lập, một lực lượng ngoại tỉnh không có mối ràng buộc quyền lợi hay thành tích với học sinh cũng như chính quyền sở tại. Đến kì thi Tốt nghiệp THPT, vai trò này bị thu hẹp tối đa, các trường ĐH chỉ còn tham gia vào công tác kiểm tra tại điểm thi cùng với thanh tra của Sở GD&ĐT.
Nguy cơ gian lận
Trong khi trường ĐH rút lui, toàn bộ quy trình từ chuẩn bị, coi thi, bảo quản bài thi đến chấm thi đều được khép kín trong phạm vi một tỉnh, thành phố. Mô hình “làm tất ăn cả” này về mặt lí thuyết lẫn thực tiễn đều bộc lộ những kẽ hở lớn, dễ bị lợi dụng để thực hiện gian lận và đã có bài học từ chua xót. Nguyên nhân thứ nhất, áp lực nặng nề từ bệnh thành tích địa phương. Tỉ lệ đỗ tốt nghiệp, xếp hạng giáo dục giữa các tỉnh, thành phố luôn là áp lực vô hình lớn đối với các nhà quản lí giáo dục địa phương.
Khi “quyền sinh quyền sát” nằm hoàn toàn trong tay Sở GD&ĐT địa phương, sự thiếu vắng của một lực lượng giám sát độc lập, như khối ĐH làm tăng nguy cơ nới lỏng quy chế, “nhắm mắt cho qua” hoặc thậm chí là dung túng cho các sai phạm từ phòng thi. Việc kiểm soát sai phạm với chỉ 2-3 giảng viên ĐH trong một hội đồng thi với hàng chục người sở tại đã làm yếu đi rất nhiều vai trò thanh tra giám sát của Bộ GD&ĐT. Đó còn chưa tính đến năng lực thực tế của giảng viên.
Bảng minh họa lực lượng làm thi tại điểm thi Trường THPT chuyên Tuyên Quang. Thực tế, số phòng thi, giám thị coi thi có thể nhiều hơn vì số lượng thí sinh đăng ký dự thi môn tự chọn khác nhau
Thứ hai, mối quan hệ ràng buộc khép kín. Tại một địa phương, từ giám thị, thanh tra, cán bộ coi thi cho đến lãnh đạo hội đồng thi thường có mối quan hệ đồng nghiệp, quen biết, hoặc chịu sự quản lí hành chính trực tiếp từ một đầu mối duy nhất là Sở GD&ĐT. Điều này làm giảm đáng kể tính phản biện và đấu tranh chống tiêu cực.
Đại án gian lận điểm thi năm 2018 tại Hà Giang, Sơn La, Hòa Bình diễn ra ngay trong giai đoạn thi THPT Quốc gia, chứng minh rằng, ngay cả khi có sự giám sát của trường ĐH, tội phạm công nghệ cao và sự tha hóa quyền lực địa phương vẫn tìm ra sơ hở để can thiệp. Do đó, khi kì thi được giao cho địa phương chịu trách nhiệm hoàn toàn, nguy cơ này không giảm mà còn cộng thêm tiềm ẩn diễn biến tinh vi hơn nếu công tác giám sát công nghệ thông tin và thanh tra bị buông lỏng.
Thứ ba, sự thiếu hụt về nguồn lực và tính chuyên nghiệp trong bảo mật. Các trường ĐH lớn vốn có quy trình khảo thí nghiêm ngặt, nhân sự được đào tạo bài bản chuyên sâu về bảo mật đề thi và dữ liệu. Trong khi đó, không phải địa phương nào cũng đảm bảo được cơ sở vật chất, hệ thống camera giám sát hay đội ngũ kĩ thuật viên đủ trình độ để chống lại các hành vi can thiệp từ bên ngoài vào hệ thống chấm thi trắc nghiệm.
Sự vắng bóng của các trường ĐH trong vai trò đồng tổ chức đòi hỏi Bộ GD&ĐT phải thiết lập được một cơ chế kiểm soát quyền lực thay thế hữu hiệu. Nếu không, “chiếc áo” tốt nghiệp THPT do địa phương tự may rất có thể sẽ bị vẩn đục bởi những mưu toan thành tích cá nhân, làm mất đi sự công bằng cho hàng triệu sĩ tử trên cả nước.
Kì thi tốt nghiệp THPT năm 2026, Bộ GD&ĐT cử 160 giảng viên từ 4 trường ĐH (ĐH Thủ đô, ĐH Thành Đô, ĐH Hòa Bình, ĐH Tài nguyên và Môi trường Hà Nội) “cắm chốt” tại Tuyên Quang với tư cách là những người “gác cổng” quy chế. Tuy nhiên, sai phạm tại điểm thi Trường THPT Chuyên Tuyên Quang vẫn diễn ra. Trong khi chờ cơ quan chức năng xác định trách nhiệm của các giảng viên cắm chốt tại đây, có một câu hỏi đặt ra: Vì sao trưởng điểm thi có thể “xuyên thủng” hai lớp “giáp” bảo vệ là thanh tra Bộ GD&ĐT, thanh tra Sở GD&ĐT cắm chốt một cách dễ dàng để vi phạm quy chế thi?
Link nội dung: https://phunuvathoidaivn.com/chan-nguy-co-gian-lan-khi-truong-dai-hoc-mat-quyen-kiem-soat-a192772.html