Hai quyết định mở đường cho phát triển công nghệ chiến lược của Việt Nam

Với việc ban hành Quyết định số 21 về danh mục công nghệ chiến lược và Quyết định số 808 về các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược, Chính phủ đang từng bước hoàn thiện khung chiến lược và khung hành động nhằm làm chủ các công nghệ lõi, nâng cao năng lực tự chủ quốc gia và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Hai quyết định mở đường cho phát triển công nghệ chiến lược của Việt Nam- Ảnh 1.

Phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao năng lực tự chủ quốc gia - Ảnh: VGP/TG

Các quyết định này góp phần cụ thể hóa Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, đưa các định hướng lớn về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo vào thực tiễn thông qua những nhiệm vụ và sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể.

Theo ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ KH&CN), phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao năng lực tự chủ quốc gia, tạo động lực tăng trưởng mới và hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045.

Để hiện thực hóa mục tiêu này, Chính phủ đã từng bước hoàn thiện khung chính sách, từ xác định các lĩnh vực ưu tiên đến xây dựng cơ chế triển khai cụ thể, gắn công nghệ với các bài toán phát triển thực tiễn của đất nước.

Một dấu mốc quan trọng là việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2026/QĐ-TTg về Danh mục công nghệ chiến lược và Danh mục sản phẩm công nghệ chiến lược, thay thế Quyết định số 1131 trước đây.

Theo ông Lưu Quang Minh, đây là văn bản có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập khung ưu tiên quốc gia về công nghệ chiến lược, làm căn cứ để các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học định hướng hoạt động nghiên cứu, đầu tư, phát triển sản phẩm, từng bước hình thành năng lực cạnh tranh công nghệ trong tương lai.

Điểm mới nổi bật của Quyết định số 21 là cách tiếp cận lựa chọn công nghệ không chỉ dựa trên xu hướng phát triển của thế giới mà xuất phát từ các bài toán lớn của quốc gia, của nền kinh tế và của từng ngành, lĩnh vực cụ thể.

Theo đó, mỗi công nghệ được lựa chọn đều phải gắn với sản phẩm công nghệ chiến lược cụ thể, với công nghệ lõi cần làm chủ, với chủ thể có khả năng triển khai và thị trường đầu ra rõ ràng. Cách tiếp cận này giúp tránh tình trạng lựa chọn công nghệ theo phong trào hoặc đầu tư dàn trải nhưng không tạo ra được sản phẩm có giá trị thực tiễn và năng lực công nghệ thực chất.

Danh mục công nghệ chiến lược được xác định tập trung vào những lĩnh vực có khả năng tạo động lực mạnh mẽ cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng suất lao động, năng lực cạnh tranh quốc gia, đồng thời phục vụ yêu cầu bảo đảm quốc phòng, an ninh và tự chủ chiến lược.

Các nhóm công nghệ ưu tiên bao gồm trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, điện toán đám mây, bán dẫn và chip chuyên dụng, mạng viễn thông thế hệ mới, robot và tự động hóa, bản sao số, an ninh mạng, y sinh tiên tiến, năng lượng và vật liệu mới, công nghệ đất hiếm, hàng không vũ trụ, công nghệ đường sắt hiện đại cùng nhiều công nghệ nền tảng khác.

Đây đều là những lĩnh vực có tiềm năng hình thành các ngành công nghiệp mới, đồng thời góp phần giảm sự phụ thuộc vào công nghệ nhập khẩu trong các lĩnh vực then chốt.

Hai quyết định mở đường cho phát triển công nghệ chiến lược của Việt Nam- Ảnh 2.

Ông Lưu Quang Minh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật và Công nghệ (Bộ KH&CN) - Ảnh: VGP/TG

Từ xác định ưu tiên đến tổ chức thực hiện

Tuy nhiên, theo đại diện Bộ KH&CN, việc ban hành danh mục công nghệ chiến lược mới chỉ là bước khởi đầu.

Thực tiễn cho thấy, nếu chỉ có danh mục ưu tiên mà thiếu các nhiệm vụ cụ thể, thiếu chủ thể triển khai, thiếu nguồn lực đầu tư và cơ chế đánh giá đầu ra thì rất khó chuyển hóa định hướng chính sách thành năng lực công nghệ thực tế.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 808/QĐ-TTg về các nhiệm vụ phát triển công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược gắn với các bài toán lớn của đất nước.

Ông Lưu Quang Minh cho rằng đây là bước chuyển rất quan trọng từ giai đoạn xác định ưu tiên sang giai đoạn tổ chức thực hiện.

“Nếu Quyết định số 21 trả lời câu hỏi Việt Nam cần ưu tiên những công nghệ và sản phẩm nào thì Quyết định số 808 trả lời câu hỏi những ưu tiên đó sẽ được triển khai thông qua nhiệm vụ gì, gắn với bài toán nào, có sự tham gia của những chủ thể nào và hướng tới kết quả gì”, ông Minh nhấn mạnh.

Theo cách nhìn này, Quyết định số 21 đóng vai trò như một khung chiến lược, trong khi Quyết định số 808 chính là khung hành động để hiện thực hóa chiến lược đó.

Một trong những điểm mới đáng chú ý của Quyết định số 808 là yêu cầu triển khai công nghệ chiến lược theo một chuỗi hoàn chỉnh. Chuỗi này bắt đầu từ việc xác định các bài toán lớn của quốc gia, lựa chọn sản phẩm công nghệ chiến lược, bóc tách công nghệ lõi cần làm chủ, xác định chủ thể thực hiện, đến xây dựng thị trường đầu ra và xác định đơn vị sử dụng sản phẩm.

Cách tiếp cận này được kỳ vọng sẽ khắc phục tình trạng nghiên cứu khoa học tách rời nhu cầu thực tiễn, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp, viện nghiên cứu, trường đại học và cơ quan quản lý cùng tham gia vào một chuỗi phát triển thống nhất.

Theo ông Lưu Quang Minh, năng lực tự chủ công nghệ không thể hình thành từ một vài đề tài nghiên cứu đơn lẻ.

Để làm chủ công nghệ, cần có hệ sinh thái đồng bộ bao gồm hạ tầng nghiên cứu hiện đại, hạ tầng dữ liệu, phòng thí nghiệm, trung tâm thử nghiệm, hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật, nguồn nhân lực chất lượng cao và các doanh nghiệp đủ năng lực dẫn dắt thị trường.

Đây chính là những điều kiện nền tảng để các kết quả nghiên cứu có thể được chuyển hóa thành sản phẩm, sản phẩm được đưa ra thị trường và doanh nghiệp Việt Nam từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Theo ông Lưu Quang Minh, tác động kỳ vọng của Quyết định số 21 và Quyết định số 808 không chỉ nằm ở việc bổ sung thêm một danh mục công nghệ ưu tiên, mà quan trọng hơn là tạo ra một phương thức mới trong tổ chức phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Đó là sự chuyển đổi từ nghiên cứu phân tán sang triển khai có trọng tâm, trọng điểm; từ lựa chọn công nghệ theo xu hướng sang phát triển công nghệ theo bài toán thực tiễn; từ hỗ trợ riêng lẻ sang hỗ trợ theo chuỗi; từ tập trung vào kết quả nghiên cứu sang hướng tới sản phẩm, thị trường và năng lực công nghiệp.

Nếu được triển khai hiệu quả trong thời gian tới, hai quyết định này được kỳ vọng sẽ góp phần hình thành năng lực công nghệ nội sinh của Việt Nam, nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, tạo ra các sản phẩm công nghệ có giá trị gia tăng cao và thúc đẩy sự phát triển của các ngành công nghiệp mới dựa trên tri thức, dữ liệu, công nghệ lõi và đổi mới sáng tạo.

Link nội dung: https://phunuvathoidaivn.com/hai-quyet-dinh-mo-duong-cho-phat-trien-cong-nghe-chien-luoc-cua-viet-nam-a184320.html